Phạm trù « công lý » (justice) chiếm một vị trí đặc biệt trong Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo (HTXHCG), đến mức một số tác giả muốn trình bày bộ văn kiện này đã tóm tắt nó bằng một công thức làm nổi bật rõ ràng khái niệm đó: người ta có thể nghĩ đến tác phẩm nhập môn về tư tưởng xã hội của Giáo hội của Pierre de Charentenay, Vers la justice de l’Évangile (xuất bản năm 2008), hoặc, bằng tiếng Anh, cẩm nang tham khảo của Thomas Massaro, Living Justice (phụ đề Catholic Social Teaching in Action, xuất bản năm 2012 cho ấn bản thứ hai). Vị trí đặc biệt và thậm chí là trung tâm này, như chúng ta sẽ thấy, bắt nguồn từ truyền thống đã phát triển từ những ngày đầu của Kitô giáo, chính nó được nuôi dưỡng từ truyền thống Thánh Kinh, nhưng cũng từ tư tưởng triết học khởi từ chiếc nôi của Hy Lạp cổ đại.
Trong bài viết này, vấn đề không phải là muốn tóm tắt lịch sử này, mà bắt đầu bằng việc cung cấp một số điểm tham chiếu cho cách tiếp cận công lý này, từ cả quan điểm triết học và thần học, cùng với sự phát triển của nó. Điều này sẽ cho phép chúng ta hiểu rõ hơn vị trí độc đáo của công lý trong học thuyết của Giáo hội khi nó được đề cập, như là chân trời, trong phạm vi xã hội. Sau đó, chúng ta sẽ có thể đánh giá tốt hơn cách khái niệm này được đề cập trong những phát triển gần đây nhất của HTXHCG (để trình bày về cách tiếp cận công lý từ khi HTXHCG ra đời cho đến cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là cho đến thời Đức Bênêđíctô XVI, chúng ta sẽ tham chiếu bài viết “Công lý xã hội” có sẵn trên trang web này [1]).
Những Đặc Điểm Của Công Lý Mà Chúng Ta Không Thể Bỏ Qua Khi Xem Xét Cách Tiếp Cận Công Lý Trong HTXHCG
Ngay cả trước khi xem xét công lý từ góc độ truyền thống triết học, cần phải thừa nhận rằng có một kinh nghiệm tiền phản tỉnh (préréflexive) về nó. Chính xác hơn, đó là kinh nghiệm về sự bất công: trước hết, có kinh nghiệm cụ thể về sự bất công ở con người, một kinh nghiệm đặc biệt nảy sinh từ quá trình học hỏi về đời sống xã hội. Kinh nghiệm này có thể có hai hình thức chính, tùy thuộc vào việc chủ thể là – hoặc tự coi mình là – nạn nhân của sự bất công hay chủ thể là người chứng kiến một hoàn cảnh bất công. Trong trường hợp thứ nhất, cảm giác là: những gì tôi có quyền mong đợi từ người khác đã bị nhạo báng. Đó là vấn đề những nhu cầu tối thiểu trong đời sống xã hội, về việc sống chung với người khác. Chúng ta biết rằng ngay từ rất sớm, trẻ em đã nhạy cảm với việc thiếu tôn trọng quy tắc mặc nhiên về những gì “bình thường” được mong đợi ở người khác, và chúng có thể phản ứng dữ dội khi sự bất công xuất hiện. Trong trường hợp thứ hai, chúng ta bị đánh động bởi những gì ảnh hưởng đến những người khác (vi phạm các quyền cơ bản, từ chối các lợi ích thiết yếu, sự sỉ nhục, v.v.). Một cảm giác đồng cảm nảy sinh trong chúng ta – theo nghĩa mạnh mẽ của “chịu đau khổ với” – kết nối chúng ta với những người khác và khiến chúng ta cảm nhận rất mạnh mẽ sự bất công mà họ phải chịu đựng, đến mức một số người sẽ dấn thân vào các hành động và đấu tranh vì công lý. Trong cả hai trường hợp, chúng ta trải qua một kinh nghiệm về sự tương phản, tầm quan trọng của nó được nhà thần học E. Schillebeckx tóm tắt như sau: “Nếu không có bước mở đầu mang tính tiền phản tỉnh về kinh nghiệm tương phản này, vốn đánh thức một sự phản kháng mang tính ngôn sứ, thì cả khoa học lẫn tư tưởng thần học và triết học đều sẽ không thể bắt tay vào việc.” [2] Từ kinh nghiệm về sự tương phản này nảy sinh một hàm ý đạo đức dẫn dắt chúng ta hành động để khôi phục các điều kiện công lý bị từ chối trong hoàn cảnh đang được cân nhắc. Kinh nghiệm như vậy rõ ràng đã đóng một vai trò trong mối quan tâm xã hội vốn là mối quan tâm của các Kitô hữu ngay từ đầu và trong quá trình hình thành dần dần, sau đó có hệ thống và hữu cơ – với HTXHCG – của một tư tưởng xã hội. Nó là điều kiện cho chính khả năng của một HTXHCG được sống, hôm qua cũng như hôm nay.
Những Soi Sáng Của Truyền Thống Triết Học Về Cách Tiếp Cận Công Lý Trong HTXHCG
Những nỗ lực nhằm hợp lý hóa khái niệm công lý trong suốt lịch sử triết học đã tạo ra nhiều cách tiếp cận khác nhau, chứng tỏ sự phong phú đi kèm với ý tưởng về công lý và khó khăn trong việc định nghĩa nó. Con đường đầu tiên, bắt nguồn từ triết học cổ đại và được phục hồi vào thế kỷ XX, coi công lý là một đức tính, được liên kết một cách cổ điển với các bản đức.[3] Tuy nhiên, nó khác với các bản đức khác (khôn ngoan, tiết độ, can đảm) bởi vì « công lý chắc chắn là đức tính duy nhất hoàn toàn tốt »[4]; nó không thể được sử dụng cho mục đích xấu xa. Như triết gia André Comte-Sponville đã tóm tắt, “mọi giá trị đều đòi hỏi nó; toàn thể nhân loại đều cần đến nó.”[5]
Theo nguồn gốc của từ « công lý », « jus » có nghĩa là pháp luật trong tiếng Latinh, đôi khi người ta bằng lòng định nghĩa công lý là sự tuân thủ pháp luật. Quan điểm này có ưu điểm là định nghĩa một nguyên tắc hoạt động trong xã hội và có khả năng thiết lập nền tảng pháp quyền. Vấn đề nảy sinh khi luật lệ do con người đặt ra dường như không phù hợp với các giá trị được viện dẫn nhân danh một đạo đức cao hơn nhằm ràng buộc công dân, người cũng là một chủ thể luân lý: khi luật lệ trở nên bất công, thì việc phản đối nó là điều chính đáng. Truyền thống triết học, tất nhiên, không bỏ qua quan niệm chắc chắn tự nhiên nhất về công lý, vốn đề cập đến sự bình đẳng (égalité) hoặc ít nhất là lẽ công bình (équité), nếu ta không dừng lại ở chủ nghĩa bình đẳng (égalitarisme) nghiêm ngặt được gợi ý bởi hình ảnh về công lý như là việc theo đuổi sự cân bằng hoàn hảo giữa hai đĩa của một cán cân. Điều này rõ ràng sẽ là một động lực quan trọng trong việc suy nghĩ chính xác về công lý xã hội xét về mặt phân phối và phân bổ các lợi ích. Theo quan điểm này, vấn đề về mức độ bất bình đẳng có thể được chấp nhận trong một xã hội công bằng sẽ là một vấn đề then chốt. Vấn đề này là đối tượng của nhiều cuộc tranh luận trong triết học đương đại và là trọng tâm trong tư tưởng của nhà triết học người Mỹ John Rawls trong tác phẩm Lý thuyết về công lý của ông.[6] Ông lập luận rằng sự khác biệt về xã hội và kinh tế là hợp pháp miễn là chúng mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, kể cả những người thiệt thòi nhất. Cần lưu ý rằng các cuộc tranh luận triết học xoay quanh ý tưởng công lý cũng xoay quanh các vấn đề về bình đẳng cơ hội vào thế kỷ XX. Một tác giả như Amartya Sen[7] đã đưa ra ý tưởng rằng một xã hội là công bằng nếu nó cung cấp sự bình đẳng cơ hội thực sự hiệu quả cho mỗi thành viên của mình, và từ đó ông đã đưa vào khái niệm « các năng lực » ( capabilités)[8].
Suy tư triết học cũng tập trung vào vấn đề công lý đến từ đâu. Do đó, sự hỗ tương có thể xuất hiện như một mô hình nguyên thủy về công lý. Nó giả định một ngưỡng ý thức luân lý, nơi người ta ý thức được điều gì là công bằng thông qua quá trình đồng nhất với người khác: từ những gì tôi mong đợi ở người khác, tôi có thể khám phá ra những gì được đòi hỏi ở tôi. Một cách trình bày – theo giả thuyết – nguồn gốc của công lý, theo nghĩa này, được John Rawls đề xuất với « bức màn vô tri » của ông: « Mỗi người, không biết mình sẽ là ai (trong xã hội), chỉ có thể tìm kiếm lợi ích của mình trong lợi ích của tất cả mọi người và của mỗi người, và chính lợi ích không phân biệt này mà ta có thể gọi là công lý hoặc, dù thế nào đi nữa, cũng cho phép tiếp cận nó. »[9] Cần lưu ý rằng chính HTXHCG đã minh nhiên tranh luận với cách tiếp cận của Rawls: điều này đã xảy ra trong thư mục vụ của các giám mục Hoa Kỳ, Công lý kinh tế cho tất cả mọi người, năm 1988. Nếu các ngài nhạy cảm với ý tưởng về việc phân phối các lợi ích mà không hy sinh bất kỳ người nào cho phúc lợi giả định của toàn xã hội (như cách tiếp cận theo chủ nghĩa duy lợi sẽ làm), thì các ngài đã không theo đuổi nó trong chừng mực các ngài cho rằng các nguyên tắc công lý mà Rawls đề xuất về cơ bản vẫn phụ thuộc vào các lợi ích được đặt kề nhau (và trên thực tế là ích kỷ) của mỗi người mà không xem xét đúng mức đến lựa chọn ưu tiên cho người nghèo, một hoa trái của lòng bác ái, vốn là một nguyên tắc Tin Mừng then chốt của HTXHCG [10]
Các Nguồn Tư Liệu Từ Truyền Thống Thánh Kinh Nuôi Dưỡng Cách Tiếp Cận Công Lý Trong HTXHCG
Khái niệm công lý chiếm một vị trí rất quan trọng trong toàn bộ Thánh Kinh (sedâqâh trong tiếng Do Thái hoặc dikaiosunè trong tiếng Hy Lạp, các hình thức này không hoàn toàn tương đương), và chúng ta phải nhấn mạnh sự phong phú về ý nghĩa (tôn giáo, luân lý, tư pháp, pháp lý) được bao hàm bởi khái niệm công lý trong Thánh Kinh, điều này khiến việc thiết lập một định nghĩa rất chính xác trở nên khó khăn.
Tuy nhiên, để đi đến cốt lõi, trước tiên chúng ta vẫn có thể giữ lại những đặc điểm sau đây của khái niệm công lý trong Cựu Ước. Công lý trước hết xuất hiện như sự trung tín với đòi hỏi của mối tương quan. Nó không phải là một đức tính nhân bản, cũng không phải là một đặc tính siêu hình của Thiên Chúa, nhưng thuộc về một mối quan hệ độc nhất vô nhị giữa Thiên Chúa và dân Ngài, trong đó chính Thiên Chúa sáng kiến và con người được kêu gọi đáp lại (trong khuôn khổ một Giao ước được bảo đảm bởi các điều khoản của Luật pháp). Mở rộng hơn, công lý đề cập đến phẩm chất chính trực và ngay thẳng vốn phải là phẩm chất của các mối tương quan giữa con người. Vấn đề là tạo ra sự hài hòa trong cộng đồng, và ở đây chúng ta đã thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa công lý và hòa bình mà chúng ta bắt gặp xuyên suốt truyền thống tư tưởng xã hội Kitô giáo, bao gồm cả HTXHCG (về vấn đề này, xem phần “Công lý như một điều kiện của hòa bình” trong bài viết “Công lý xã hội” trên trang web này). Một nhấn mạnh quan trọng khác đến công lý kể từ Cựu Ước, đó là công lý của Thiên Chúa và công lý của con người không tách rời nhau. Mặc dù đôi khi Thiên Chúa có vẻ trừng phạt kẻ ác, trong trường hợp không trung thành với các đòi hỏi của công lý, nhưng Thiên Chúa trước tiên được công nhận là công chính bởi vì Ngài luôn trung thành với giao ước của mình và do đó Ngài sẵn lòng tha thứ. Thiên Chúa không phải là một người làm sáng tỏ công lý theo nghĩa của con người; rõ ràng Ngài không bao giờ trả thù, cũng không dùng đến sự trả đũa tương xứng hay việc thực thi công lý lý trí đầy lạnh lùng. Ở đây, chúng ta đứng trước một đặc điểm của công lý của Thiên Chúa sẽ được khẳng định đầy đủ trong Tân Ước và sau này trong truyền thống thần học Kitô giáo: mối liên hệ không thể tách rời giữa công lý của Thiên Chúa và lòng thương xót của Ngài. Ở đây, chúng ta cũng tìm thấy, một cách tương tự, những bước đầu của những gì Giáo hội sẽ dạy trong tư tưởng xã hội của mình về sự liên kết không ngừng tìm kiếm giữa công lý và bác ái (xem tiếp bài viết “Công lý xã hội” được đăng trên trang web này, đặc biệt là phần “Công lý như là sự tôn trọng phẩm giá con người trong các mối tương quan xã hội”). Một đặc điểm quan trọng cuối cùng của công lý trong Cựu Ước liên quan đến sự ưu tư dành cho góa phụ, trẻ mồ côi và người ngoại kiều (ba hình ảnh tượng trưng cho sự dễ bị tổn thương trong xã hội). Sự ưu tư này – đặc biệt hiện diện trong các sách ngôn sứ – một cách nào đó, là sự thể hiện niềm tin vào Thiên Chúa công chính của Giao ước và nó cho phép xác thực tính hiệu lực của niềm tin đó. Trong bài viết này, chúng ta sẽ lưu ý rằng mối ưu tư đó là cơ sở cho những đòi hỏi về công lý xã hội được ghi dấu bởi sự quan tâm đến những người dễ bị tổn thương nhất, tức là một hình thức ưu tiên chọn lựa người nghèo vốn sẽ đánh dấu HTXHCG một cách ngày càng rõ nét hơn trong sự tiến triển của nó. Điều này sẽ đặc biệt đúng khi HTXHCG tập trung sự chú ý vào vấn đề “Công lý và Phát triển” từ những năm 1960 trở đi, và sau đó kết hợp suy ngẫm về “Công lý trong Thời đại Toàn cầu hóa” vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI (xem các phần tương ứng của bài viết “Công lý Xã hội” trên trang web này).
Trái ngược với Cựu Ước, các văn bản của Tân Ước (các sách Tin Mừng và các tác phẩm không thuộc thư của Phao-lô) rất hiếm khi áp dụng chủ đề công lý cho Thiên Chúa. Giáo huấn của Chúa Giêsu thiên về chủ đề Nước Thiên Chúa (đôi khi được mô tả là vương quốc công lý và hòa bình) hoặc tình phụ tử của Thiên Chúa. Chúng ta không tìm thấy nơi các sách Tin Mừng các quy định, các bổn phận công lý, và cũng không thấy trình bày Chúa Giêsu như một thẩm phán hay một thầy dạy về công lý . Khi thuật ngữ “công lý” được sử dụng, chủ yếu trong Tin Mừng Mátthêu, về cơ bản nó chỉ sự công chính của con người, của hành động của họ trước mặt Thiên Chúa, và của lòng trung thành của họ đối với các điều răn của Thiên Chúa. Tuy nhiên, từ quan điểm này, sự công chính của các nhóm tôn giáo như người Pharisêu bị lên án vì sự giả hình của họ. Nơi Chúa Giêsu, chọn lựa ưu tiên cho người nghèo được xác nhận trước hết phải là lối tiếp cận công lý cần được ưu tiên. Thái độ của Người đối với những người nghèo nhất muốn thể hiện công lý của Nước Trời đang đến gần. Với đoạn văn về cuộc phán xét cuối cùng ở chương 25 của Tin Mừng Mátthêu, chúng ta khám phá ra ý nghĩa của việc thực thi công lý, và còn nhận ra rằng công lý đó đang được thực thi ngay từ bây giờ. Việc nhấn mạnh đến công lý, vốn không thể tách rời khỏi lòng thương xót, được làm nổi bật cả qua giáo huấn trong các dụ ngôn của Chúa Giêsu (ví dụ, dụ ngôn về người mắc nợ không có thương xót trong Mátthêu 18, 23-35) và qua hành động của Người (xem câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình). Sự dấn thân cho công lý này nằm trong viễn cảnh Nước Thiên Chúa do Chúa Kitô khai mở đang đến và nó được đòi hỏi đối với bất cứ ai muốn đón nhận Nước Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã long trọng nhắc nhở trong Bài Giảng Trên Núi, đặt những người thi hành công lý ở vị trí nổi bật.
Qua kinh nghiệm cá nhân, thánh Phaolô được thúc đẩy kết nối lại với chủ đề về sự công chính của Thiên Chúa. Ngài hiểu rằng ngài không thể cậy dựa vào việc làm của bản thân, nhưng chỉ dựa vào Thiên Chúa, Đấng cứu độ ngài trong Chúa Kitô. Ngài sẽ mang lại ý nghĩa mới cho sự công chính của Thiên Chúa: sự công chính này tạo ra sự công chính hóa cho nhân loại không dựa trên việc tuân giữ luật pháp nhưng dựa trên niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, là hồng ân nhưng không của lòng thương xót của Thiên Chúa. Chính trên những nền tảng như vậy mà chúng ta có thể xem xét vấn đề công lý trước mặt Thiên Chúa như được đề cập cụ thể trong Thư gởi tín hữu Rôma. Đối với thánh Phaolô, công lý của Thiên Chúa không thể bị thu hẹp lại thành việc xét xử; trên hết, nó là lòng trung tín đầy thương xót với ý muốn cứu độ; nó tạo ra nơi con người công lý mà nó đòi hỏi nơi họ và chỉ có thể tô điểm cách thức mà nó sẽ phải được triển khai, ngay cả trong lĩnh vực xã hội, vốn là đối tượng của HTXHCG.
Vị Trí Của Công Lý Trong Phạm Vi Xã Hội Được Kế Thừa Từ Truyền Thống Tôma: Sự Liên Kết Giữa Cá Nhân Và Toàn Thể Xã Hội
Cách tiếp cận công lý của thánh Tôma Aquinô có vai trò quyết định trong sự phát triển thần học mà khái niệm này đã trải qua trong lịch sử tư tưởng Kitô giáo. Đặc biệt, nó cho phép chúng ta hiểu được vị trí trung tâm mà công lý sẽ chiếm giữ trong giáo huấn xã hội của Giáo hội trước và rồi cùng với HTXHCG.
Như đã đề cập, thánh Tôma Aquinô dựa rất nhiều vào Aristote để xây dựng tư tưởng thần học của riêng mình về công lý. Trong tác phẩm Tổng luận Thần học, công lý được đề cập trong phần thảo luận về các đức tính (IIa IIae q. 58-122). Ở điểm xuất phát, ngài định nghĩa công lý dựa trên luật Rôma (q. 58, 1): « Điều mà một người, thông qua ý chí bền vững và kiên định, trao cho mỗi người (cuisque) những gì thuộc về người đó (ius suum) ». Theo sau Aristote, ngài phân biệt giữa đức tính công lý chung và công lý đặc thù. Công lý chung là điều cho phép chúng ta hành động và mong muốn điều tốt, công bằng và đúng đắn, và mục tiêu cuối cùng của nó là công ích; cần phải phân biệt giữa những gì thuộc về công lý pháp lý (đề cập đến việc ban hành luật) và những gì thuộc về lẽ công bình (équité) (công lý hoàn hảo, mà biểu hiện tốt nhất của nó là sự khôn ngoan của Thiên Chúa). Về phần mình, công lý đặc thù là công lý hướng đến lợi ích của người khác, xét như là một cá nhân riêng biệt. Nó có hai hình thức: công lý giao hoán, điều chỉnh các trao đổi dựa trên sự tôn trọng bình đẳng giữa các vật được trao đổi, tôn trọng hợp đồng; và công lý phân phối, phân phối của cải và danh dự giữa các thành viên trong cộng đồng và không phụ thuộc vào sự bình đẳng, nhưng phụ thuộc vào tỷ lệ với các vấn đề về phân phối (phân phối, do chính quyền thực hiện, các lợi ích theo công trạng và đóng góp cho công ích).
Ba cực của công lý (công lý chung, công lý giao hoán và công lý phân phối) này rất cần thiết để hiểu được sự phức tạp của đức tính này từ góc độ xã hội. Chúng cho phép chúng ta nắm bắt được vấn đề về các trao đổi khác nhau giữa các cá nhân với nhau và giữa các cá nhân với Nhà nước. Chúng xác định các điều kiện cho sự tồn tại của đời sống cộng đồng: mối quan hệ của các cá nhân với toàn thể xã hội (công ích), tức là ordo partium ad totum (với công lý chung); mối quan hệ của các cá nhân với nhau, tức là ordo partium ad partes (với công lý giao hoán); và mối quan hệ của toàn thể xã hội (công ích) với các cá nhân, tức là ordo totius ad partes (công lý phân phối).
Mối liên hệ giữa bác ái và công bằng cũng sẽ là trọng tâm trong mối quan tâm của thánh Tôma Aquinô. Ngài sẽ diễn đạt điều này bằng cách chỉ ra mối quan hệ giữa các đức tính đối thần và các đức tính luân lý cơ bản. Ngài sẽ nhấn mạnh mạnh mẽ vai trò của bác ái, với tính trỗi vượt của tình yêu agape so với công lý. Bác ái sẽ được gọi là « mô thức của tất cả các đức tính ». Nhờ bác ái, các đức tính luân lý đóng vai trò thiết yếu trong trật tự cứu độ. Chúng không chỉ đơn thuần là những công cụ để đạt được công đức; theo một công thức truyền thống, chúng là con đường của bác ái, nếu không có nó thì bác ái không thể được thực hành. Đối với thánh Tôma, một mặt, bác ái đòi hỏi sự hiện thực hóa công lý, mặt khác, công lý cần bác ái, vốn đảm bảo cho nó một tính nội tâm không thể thiếu. Nói cách khác, công lý, khi được hoàn thiện bởi tình yêu huynh đệ đích thực, không xa lạ với sự tiến bộ tâm linh, với ơn cứu độ mà Chúa Kitô đã loan báo. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm luân lý của nhà thần học rằng luật của Chúa Kitô (luật mặc khải) và luật tự nhiên có mối liên hệ với nhau (vì chúng xuất phát từ một luật vĩnh cửu duy nhất) và phải dẫn đến cùng một sự phân định.
Trong bối cảnh này, công lý xã hội, như sẽ được trình bày trong HTXHCG, xuất hiện vừa như một khái niệm mới gắn liền với vấn đề xã hội, vừa bắt nguồn từ sự diễn giải lại công lý theo thánh Tôma Aquinô. Công lý xã hội được trình bày như là yếu tố chi phối việc phân phối các lợi ích trong xã hội. Nó không chỉ đơn thuần là công lý phân phối, nhưng là chuẩn mực cho toàn bộ xã hội: nó không được giảm thiểu thành công lý giao hoán, cũng không thành công lý phân phối; nó bao hàm các hình thức này khi liên quan đến tất cả các mối quan hệ trong xã hội. Công ích nằm ở trung tâm của định nghĩa này, trái ngược với bất kỳ lý thuyết cá nhân chủ nghĩa nào về công lý. Huấn quyền cũng sẽ nhắc lại rằng tình yêu agape là chuẩn mực cơ bản của truyền thống Kitô giáo, và HTXHCG có « nguyên tắc cốt yếu » là « con người (một hữu thể xã hội về bản chất) là nền tảng, nguyên nhân và mục đích của mọi thể chế xã hội » (Mater et Magistra, số 219, Gaudium et Spes, số 25). Từ đó, HTXHCG nhấn mạnh đến chiều kích hỗ tương xã hội và liên vị, vốn là chiều kích của công lý. Công lý đòi hỏi các mối tương quan xã hội cho phép mỗi người tự hoàn thiện bản thân trong sự hiệp nhất và liên đới với người khác. Sự tương tùy không chỉ là về thể chất, tâm lý và kinh tế, đó còn là một nghĩa vụ đạo đức của tình yêu.
Vị Trí Then Chốt Của Công Lý Trong HTXHCG
Vì thế, trong tư tưởng của Giáo hội về công lý, mọi sự đều cho thấy rằng công lý chiếm một vị trí then chốt trong số các giá trị cơ bản của đời sống xã hội mà HTXHCG công nhận. Bởi vì, như chúng ta đã thấy, nó không chỉ tạo thành hệ thống với chân lý, bác ái và tự do để thiết lập hòa bình giữa tất cả mọi người và tất cả các quốc gia (xem đề cập đến thông điệp Pacem in terris được gợi lên trong bài viết « Công lý xã hội » trên trang web này). Trong sự liên kết giữa cá nhân và toàn thể xã hội mà nó mang lại, công lý cũng cho phép diễn tả « sự đánh giá cần được quy cho các khía cạnh quyết định của sự thiện luân lý » mà nguyên tắc công ích, hướng đến phẩm giá của mỗi người trong xã hội, muốn thực hiện. Công lý, với tư cách là giá trị xã hội, cuối cùng tỏ ra như một « điểm tham chiếu để cấu trúc phù hợp » các nguyên tắc của HTXHCG và để « hướng dẫn đời sống xã hội một cách có trật tự » [11].
Như đã loan báo ở đầu bài viết này, để tránh trùng lặp với bài viết khác trên trang web này về « Công lý xã hội », chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào các minh họa cho phép đánh giá vị trí then chốt của công lý trong những tiến triển gần đây nhất của HTXHCG.
Cách Tiếp Cận Công Lý Và Những Tiến Triển Mới Nhất Của Nó Trong HTXHCG
Công lý trong mối tương quan với việc loan báo Tin Mừng
Suy tư rõ ràng của Huấn quyền về mối liên hệ giữa công lý và việc loan báo Tin Mừng thực chất đã có từ những năm 1970 với văn kiện Justitia in mundo (1971), nhưng mối liên hệ này đã có một bước ngoặt triệt để hơn với sự khởi đầu triều đại giáo hoàng của Đức Phanxicô và Tông huấn đầu tiên của ngài, Evangelii gaudium (2013).
Văn kiện Justitia in mundo, một bản văn của Thượng Hội đồng Giám mục được tổ chức năm 1971, bàn về « Việc thúc đẩy công lý trên thế giới ». Bản văn này đặc biệt quan trọng vì những gì nó nêu ra về mối tương quan giữa công lý và việc loan báo Tin Mừng, với khẳng định sau: « Việc đấu tranh cho công lý và tham gia vào việc biến đổi thế giới đối với chúng ta hoàn toàn là một chiều kích cấu thành của việc rao giảng Tin Mừng, là sứ mạng của Giáo hội nhằm cứu chuộc và giải phóng nhân loại khỏi mọi hoàn cảnh áp bức » (số 7). Như Jean-Yves Calvez giải thích trong phần giới thiệu văn kiện Justitia in mundo, có sẵn trên trang web này, « nếu văn kiện của Thượng Hội đồng không nhận được sự đón nhận nhiệt tình trong toàn Giáo hội, thì ít ra nó vẫn ảnh hưởng đáng kể đến các vấn đề được đề cập tại Thượng Hội đồng tiếp theo (1974), tập trung vào việc loan báo Tin Mừng, và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi vấn đề « giải phóng » cũng như vấn đề đấu tranh vì công lý. » J.-Y. Calvez cũng lưu ý rằng «ở đó người ta cũng đã thảo luận lại thuật ngữ « chiều kích cấu thành » (dimension constitutive), nhiều người nghĩ rằng « chiều kích toàn diện » (dimension intégrante) thể hiện chính xác hơn mối quan hệ cần phải tồn tại giữa cuộc đấu tranh vì công lý và việc rao giảng Tin Mừng. » Tông huấn Evangelii nuntiandi (1975), do Đức Giáo hoàng Phaolô VI đưa ra khi kết thúc Thượng Hội đồng năm 1974, đã tuyên bố: « Giữa việc loan báo Tin Mừng và sự thăng tiến của con người – sự phát triển, sự giải phóng -thực sự có những mối liên hệ sâu xa. Những mối liên hệ thuộc về nhân học, bởi vì người được loan báo Tin Mừng không phải là một con người trừu tượng, nhưng họ không tránh khỏi các vấn đề xã hội và kinh tế. Những mối liên hệ thuộc về thần học, bởi vì chúng ta không thể tách rời kế hoạch tạo dựng khỏi kế hoạch Cứu chuộc, vốn đạt tới những hoàn cảnh rất cụ thể của sự bất công cần phải chống lại và của sự công bằng cần phải được khôi phục. Những mối liên hệ thuộc về trật tự Tin Mừng cao cả đó vốn là trật tự của đức ái: quả thật, làm sao chúng ta có thể công bố giới răn mới mà không thúc đẩy, trong công lý và hòa bình, sự phát triển đích thực, chân chính của con người?” (số 31).
Hai bản văn này đóng vai trò là bước đệm cho Tông huấn khai mào của triều đại giáo hoàng của Đức Phanxicô, Evangelii Gaudium, nhằm khuếch đại mối liên hệ mà Huấn quyền kêu gọi giữa việc loan báo Tin Mừng và cam kết dấn thân cho công lý. Ngay từ chương đầu tiên của văn kiện này, chương bàn về « sự biến đổi sứ mạng [cần thiết] của Giáo hội », Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chỉ ra một cách rất đơn giản và trực tiếp chỗ đứng mà ngài muốn thấy dành cho công lý trong việc loan báo Tin Mừng, bắt đầu từ việc rao giảng. Ngài viết : « Trong việc loan báo Tin Mừng, cần phải giữ sự cân xứng thích hợp. Điều này được nhận thấy rõ ở tần suất đề cập đến một số chủ đề và ở sự nhấn mạnh trong bài giảng. Ví dụ, nếu một linh mục quản xứ nói mười lần trong một năm phụng vụ về sự tiết độ và chỉ hai hoặc ba lần về lòng bác ái hoặc công lý, thì đó là sự mất cân đối, khiến cho những đức tính này, vốn nên được hiện diện nhiều hơn trong lời rao giảng và giáo lý, lại bị lu mờ.» (EG 38)
Nhưng điều ý nghĩa nhất, phản ánh những trực giác về cam kết dấn thân cho công lý như một chiều kích cấu thành hoặc toàn diện của việc loan báo Tin Mừng, được thể hiện qua việc toàn bộ một chương của Tông huấn này bàn về « chiều kích xã hội của việc loan báo Tin Mừng » (số 176-258). Và không có gì đáng ngạc nhiên khi ở đó, chúng ta tìm thấy những trích dẫn nổi bật nhất về công lý trong mối tương quan với việc loan báo Tin Mừng. Mối liên hệ này thật rõ ràng từ số 178 trở đi: « Từ cốt lõi của Tin Mừng, chúng ta nhận ra mối liên hệ mật thiết giữa việc loan báo Tin Mừng và sự thăng tiến con người, vốn nhất thiết phải được thể hiện và phát triển trong mọi hoạt động loan báo Tin Mừng. » Vì Tin Mừng cần phải loan báo thực sự là « Tin Mừng về tình huynh đệ và công lý » (EG 179). Đức Phanxicô tiếp đó khai triển cách ngài nhận thấy đề xuất về một Tin Mừng như thế và chiều kích xã hội của Tin Mừng đó phải nhất thiết đề cao công lý: « Đề xuất của Tin Mừng không chỉ hệ tại một mối quan hệ cá nhân với Thiên Chúa. Cũng không nên hiểu sự đáp lại bằng tình yêu của chúng ta chỉ là tổng hợp những cử chỉ nhỏ nhặt mang tính cá nhân dành cho một cá nhân đang cần giúp đỡ… Đề xuất đó là Nước Thiên Chúa (Lc 4, 43); đó là về việc yêu mến Thiên Chúa, Đấng đang ngự trị trong thế giới. Chừng nào Ngài còn ngự trị giữa chúng ta, đời sống xã hội sẽ là không gian của tình huynh đệ, công lý, hòa bình và phẩm giá cho tất cả mọi người. » Và ngài thêm một tham chiếu quan trọng từ Tin Mừng theo thánh Mátthêu, nhấn mạnh tầm quan trọng tuyệt đối của việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa không thể tách rời khỏi sự công chính của Nước Thiên Chúa: « Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho » (Mt 6, 33). (EG 180) Trong Tông huấn này, Đức Phanxicô cũng biết cách tìm những tham chiếu khác trong bộ văn kiện huấn quyền mà ngài thừa hưởng để tăng giá trị cho chúng và củng cố lập luận của mình. Chẳng hạn, ngài nhắc lại một lời khẳng định mạnh mẽ của Đức Bênêđíctô XVI trong thông điệp Deus caritas est: « Giáo hội ‘không thể và không được đứng ngoài cuộc đấu tranh vì công lý’ » (EG 183). Ngài cũng nhiều lần trích dẫn huấn thị của Bộ Giáo lý Đức tin Libertatis nuntius (1984).[12] Ngài đặc biệt muốn tái khẳng định rằng « Giáo hội, được hướng dẫn bởi Tin Mừng về lòng thương xót và tình yêu thương đối với con người, nghe thấy tiếng kêu đòi công lý và muốn đáp lại bằng tất cả sức mạnh của mình. » (EG 188) Ngài cũng nhắc lại lời cảnh báo này đối với những người nhầm lẫn việc loan báo Tin Mừng với việc bảo vệ « giáo thuyết chính thống » (orthodoxie doctrinale) trong khi cho thấy mình đồng lõa trong những hoàn cảnh bất công không thể chấp nhận được: « Chúng ta đừng chỉ quan tâm đến việc không rơi vào những sai lầm về giáo thuyết, nhưng còn phải trung thành với con đường sáng suốt của sự sống và sự khôn ngoan này. Bởi vì, « những người bảo vệ ‘tính chính thống’ đôi khi bị trách cứ về tội thụ động, bao dung hoặc đồng lõa đối với những hoàn cảnh bất công không thể chấp nhận được và với các chế độ chính trị duy trì những hoàn cảnh này. »» (EG 194) Cuối cùng, khi đề cập đến những ngôn từ được coi là « gây khó chịu » trong « hệ thống » làm nền tảng cho « mọi chính sách kinh tế » chi phối thế giới của chúng ta, ngài viết về công lý: « Thật phiền toái khi nói về một Thiên Chúa đòi hỏi sự cam kết dấn thân cho công lý. » (EG 203) Cần lưu ý rằng ngài không chỉ đơn giản viết rằng thật phiền toái khi nói về công lý… như ngài đã làm ở những nơi khác liên quan đến đạo đức, tình liên đới: do đó, công lý không chỉ được xem xét như một phạm trù đạo đức, mà còn là một phạm trù thần học và thậm chí là đối thần. Từ đó, theo Đức Phanxicô, « nền thần bí bình dân » [13] có thể dạy chúng ta trong việc đón nhận Tin Mừng, bởi vì « ‘nền thần bí bình dân’ đón nhận toàn bộ Tin Mừng theo cách riêng của nó và thể hiện nó dưới hình thức cầu nguyện, tình huynh đệ, công lý, đấu tranh và lễ mừng. » (EG 237)
Công lý trong viễn cảnh của nền sinh thái toàn diện
Với thông điệp Laudato si’ (2015), Đức Phanxicô đã đóng dấu vào Huấn quyền xã hội của Giáo hội một mối liên hệ không thể tách rời giữa công lý như được yêu cầu trong xã hội loài người và công lý như một mối quan tâm về môi trường. Ngài đã dựa vào di sản của thánh Phanxicô Assisi, mà ngài nhận lấy: « Nơi ngài, chúng ta nhận thấy đến mức nào mối quan tâm đối với thiên nhiên, công lý cho người nghèo, sự dấn thân cho xã hội và sự bình an nội tâm là không thể tách rời » (LS 10). Cách độc đáo hơn, ngài nhấn mạnh rằng lý tưởng về công lý do Chúa Giêsu đề xuất đối lập với một mô hình trong đó « các sinh vật khác phải được coi là những vật thể đơn thuần, chịu sự thống trị tùy tiện của con người » và trong đó « người ta đề xuất một cái nhìn về thiên nhiên chỉ như một đối tượng của lợi nhuận và lợi ích » (LS 82). Theo ngài, điều này phải dẫn đến yêu cầu một nền công lý môi trường [14] trong viễn cảnh của nền sinh thái toàn diện: « Ngày nay, chúng ta không thể không nhận ra rằng một cách tiếp cận sinh thái đích thực luôn trở thành một cách tiếp cận xã hội, vốn phải phải sáp nhập công lý vào các cuộc thảo luận về môi trường, để lắng nghe cả tiếng kêu than của trái đất và tiếng kêu than của người nghèo. » (LS 49) Cũng trên cơ sở công lý môi trường được hiểu rõ mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đề xuất khai triển về « công lý giữa các thế hệ » trong một mục của chương trung tâm bàn về sinh thái toàn diện (chương IV, số 159-162). Ngài viết về vấn đề này: « Chúng ta không nói về một thái độ tùy chọn, nhưng là một vấn đề công lý nền tảng, bởi vì trái đất mà chúng ta nhận được cũng thuộc về những người sẽ đến.” Trích dẫn các giám mục Bồ Đào Nha, ngài nói thêm: “Môi trường nằm trong lôgic của sự tiếp nhận. Đó là một khoản vay mà mỗi thế hệ nhận được và phải truyền lại cho thế hệ tiếp theo », để kết luận rằng « một nền sinh thái toàn diện sở hữu tầm nhìn rộng lớn này » (LS 159).
Cuối cùng, Đức Phanxicô đã tiếp nhận các điều khoản trong thư mục vụ của Hội đồng Giám mục Cộng hòa Đôminica để đề nghị nó cho Huấn quyền của Giáo hội hoàn vũ: « Hòa bình, công lý và bảo vệ công trình tạo dựng là ba chủ đề liên kết chặt chẽ với nhau, vốn không thể tách rời để được xử lý riêng lẻ mà lại không rơi vào chủ nghĩa giản lược. » (LS 92)
Hướng tới việc vượt qua công lý bằng tình huynh đệ và sự ưu tiên cho người nghèo
Trên nhiều phương diện, thông điệp xã hội quan trọng mới nhất của Đức Giáo hoàng Phanxicô, Fratelli tutti, hướng tới việc vượt qua công lý bằng tình huynh đệ như một chân trời để hình dung ra một thế giới nơi tình bạn xã hội thực sự ngự trị.
Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chỉ ra khả năng lạm dụng từ “công lý”: « Một phương cách hiệu quả để làm tan biến ý thức lịch sử, tư duy phản biện, cuộc đấu tranh vì công lý cũng như con đường hội nhập là làm cho những từ quan trọng mất đi ý nghĩa hoặc biến chúng thành công cụ. Ngày nay, những thuật ngữ như dân chủ, tự do, công lý và thống nhất có nghĩa là gì? Chúng đã bị bóp méo và biến dạng để được sử dụng như những công cụ thống trị, như những danh hiệu trống rỗng có thể được dùng để biện minh cho bất kỳ hành động nào » (FT, 14). Ngài cũng nhận thấy rằng « trong thế giới ngày nay, những tình cảm thuộc về cùng một nhân loại đang suy yếu đi, và giấc mơ xây dựng công lý và hòa bình cùng nhau dường như là một điều không tưởng của một thời đại khác » (FT, 30). Tuy nhiên, ngài mời gọi chúng ta hãy giữ vững niềm hy vọng, bởi chỉ có điều đó mới có thể nâng cao tinh thần hướng tới « những điều vĩ đại » trong đó ngài bao gồm cả công lý (FT, 55).
Theo gương Đức Bênêđíctô XVI trong thông điệp Caritas in veritate, Đức Phanxicô cũng nhắc lại sự cần thiết phải ghi khắc công lý trong một luật pháp vốn phải được thể hiện ngay cả ở cấp độ quốc tế: « Công lý đòi hỏi không chỉ các quyền cá nhân mà còn cả các quyền xã hội và quyền của các dân tộc phải được công nhận và tôn trọng » (FT 126). Do đó, công lý phải được coi là điều kiện cho tình huynh đệ: « Công lý là điều kiện không thể thiếu để đạt được lý tưởng về tình huynh đệ phổ quát » (FT 173).
Tuy nhiên, một hệ quả quan trọng liên quan đến luật pháp, vốn phải là nền tảng của công lý nếu công lý phải cho phép tình huynh đệ, đó là luật pháp này biết dựa vào một « quan niệm cốt yếu » về công lý cho phép chúng ta gọi tên thiện và ác (FT 210).
Chính khi khai triển về những « con đường hòa bình » có thể là gì, bắt đầu từ số 225 của Fratelli tutti, mà vấn đề công lý thực sự được đề cập một cách độc đáo và chưa từng có đối với một thông điệp xã hội. Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc lại về mặt này rằng một tiến trình hòa bình là một cam kết dấn thân lâu dài và nó đòi hỏi « một công việc kiên nhẫn tìm kiếm sự thật và công lý, vốn tôn vinh ký ức về các nạn nhân và mở ra, từng bước một, một niềm hy vọng chung mạnh mẽ hơn sự trả thù » (FT 226). Điểm mang tính quyết định được nhấn mạnh liên quan đến các con đường hòa bình chính là « sự thật là người bạn đồng hành không thể tách rời của công lý và lòng thương xót » (FT 227) [15]. Bắt đầu từ số 236 của thông điệp, một suy tư chung về sự tha thứ dưới triển vọng chính trị được đề cập, bằng cách lưu tâm đến các đòi hỏi của công lý. Thách thức là hình dung và hướng tới một sự tha thứ cho phép công lý được thực thi, để sửa chữa những sai trái đã gây ra hoặc ít nhất là ngăn chặn những sai trái có thể xảy ra một lần nữa (x. FT 241). Bổn phận ký ức sẽ cần thiết trong mọi trường hợp trước những bất công, và « chúng ta không được đòi hỏi một loại ‘tha thứ xã hội’ từ phía những người đã phải đau khổ rất nhiều một cách bất công và dữ dội » (FT 246). Đề cập đến thảm họa Holocaust nhưng cũng đến vụ ném bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, Đức Phanxicô nhấn mạnh ký ức cần thiết này trong khi, với tư cách là một tín hữu, giữ thái độ khiêm nhường cầu xin lòng thương xót của Chúa trước những gì mà nhân loại có khả năng làm, thái độ mặc nhiên công chính duy nhất của con người trước mặt Thiên Chúa như một phương cách cuối cùng (xem FT 247 và 248). Lý tưởng, vốn kêu gọi mỗi người chịu trách nhiệm dấn thân vào con đường hòa bình công bằng theo nghĩa này, thực sự là lý tưởng về sự tha thứ mà không quên lãng, bởi vì « tha thứ chính là điều cho phép tìm kiếm công lý mà không rơi vào vòng luẩn quẩn trả thù, cũng không rơi vào sự bất công của việc quên lãng » (FT 252).
Về vấn đề công lý, cuối cùng thông điệp Fratelli tutti là cơ hội để Đức Giáo hoàng Phanxicô khẳng định mạnh mẽ rằng chiến tranh cũng như án tử hình là « những câu trả lời sai lầm » trong việc theo đuổi công lý (xem FT 253-270). Ý tưởng về khả năng một « cuộc chiến tranh chính đáng/công bình » [16] do đó gần như bị Đức Phanxicô bác bỏ hoàn toàn: « Chúng ta không thể nghĩ đến chiến tranh như một giải pháp nữa, bởi vì những rủi ro có lẽ sẽ luôn lớn hơn lợi ích giả định được gán cho nó. Đối mặt với thực tế này, ngày nay thật khó để bảo vệ các tiêu chí hợp lý, được phát triển trong những thời điểm khác, để nói về khả năng một ‘cuộc chiến tranh chính đáng/công bình’” (FT 258). Về điểm này, ngài viện dẫn Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, người đã từng khẳng định trong thông điệp Pacem in terris: « Không thể nghĩ rằng chiến tranh là phương tiện thích đáng để đạt được công lý cho việc vi phạm các quyền » (FT 260). Liên quan đến án tử hình và sự không cần thiết của nó trong luật hình sự, Đức Phanxicô nhắc lại lập trường của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong thông điệp Evangelium vitae để tái khẳng định rằng « không thể suy nghĩ quay trở lại lập trường này », đồng thời nhấn mạnh ý muốn của Giáo hội « kiên quyết đề xuất bãi bỏ án tử hình trên toàn thế giới » (FT 263).
Chủ đề lòng thương xót của Thiên Chúa, tô điểm cho suy tư của Đức Giáo hoàng Phanxicô trong Fratelli tutti để đánh giá công lý của con người phải như thế nào dưới ánh sáng của lòng thương xót này, được khám phá trong thông điệp cuối cùng của triều đại giáo hoàng của ngài, Dilexit nos. Bàn về tình yêu nhân loại và thần linh của trái tim Chúa Kitô, thông điệp này chắc chắn không phải là một thông điệp xã hội, nhưng nó làm sáng tỏ trước tông huấn Dilexi te về tình yêu thương người nghèo, mà Đức Phanxicô đã khởi xướng trước khi qua đời và được Đức Lêô XIV tiếp tục, làm cho bản văn quan trọng đầu tiên của vị Giáo hoàng này, trên thực tế, trở thành một bản văn có thể được xếp vào bộ văn kiện HTXHCG [17].
Ngay từ đầu thông điệp Dilexit nos, ngài đã nhấn mạnh rằng chính trong trái tim của Chúa Kitô, và chỉ trong Người mà chúng ta mới trở nên « có khả năng xây dựng những mối tương quan lành mạnh và hạnh phúc với nhau và xây dựng Vương quốc tình yêu và công lý trong thế giới này » (DN 28). Đề cập đến chủ đề đền bù trong công lý, Đức Phanxicô cho rằng công lý, nếu không muốn chỉ là một hành động công lý giao hoán đơn thuần, phải chạm đến trái tim (DN 187). Dựa vào thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, ngài đi đến chỗ khẳng định rằng cuối cùng « công lý chỉ có thể được hiểu trong ánh sáng của tình yêu » (DN 197).
Chính từ mầu nhiệm tình yêu thần linh và nhân loại trong trái tim Chúa Kitô, được đào sâu trong thông điệp Dilexit nos, đã khiến Chúa Giêsu đồng hóa mình với những người bé mọn nhất trong xã hội, mà Đức Lêô XIV xuất phát trong thông điệp Dilexi te (DT 2), để bắt đầu bằng việc tố giác các cấu trúc bất công và kêu gọi khôi phục công lý mà không phải là một cử chỉ gia trưởng (DT 43). Tông huấn đầu tiên này của Đức Giáo hoàng Lêô XIV cho phép làm rõ mối liên hệ giữa sự ưu tiên chọn lựa người nghèo và công lý, mà công lý phải được hiểu trước hết là công lý của Nước Trời (DT 16). Tóm lại, Huấn quyền xã hội kể từ thông điệp Rerum novarum đã cung cấp « một kho tàng giáo huấn thực sự về người nghèo » đồng thời không ngừng kêu gọi thúc đẩy công lý (DT 83).
Nguồn: xuanbichvietnam.net/
———————————————
[1] Bài viết này cũng đề nghị một số yếu tố phân tích về cách tiếp cận công lý xã hội của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Những yếu tố phân tích này có thể được đọc một cách ích lợi cùng với những suy tư được trình bày ở đây liên quan đến cách tiếp cận công lý và những tiến triển gần đây nhất của nó trong HTXHCG.
[2] E. Schillebeckx, « Portée théologique des déclarations du magistère en matière sociale et politique », Concilium, n°36, 1968, pp. 27- 44.
[3] Chúng ta sẽ quay lại với khái niệm công lý nơi thánh Tôma Aquinô, vào thế kỷ XIII, người vừa là một nhà triết học vừa là một nhà thần học, lấy lại truyền thống Aristote trong lối tiếp cận công lý như một đức tính để xem xét lại nó trong khuôn khổ tư tưởng Kitô giáo.
[4] A. Comte-Sponville, Petite traité des grandes vertus, Presses Universitaires de France, 1995, p. 102 dans l’édition en Livre de Poche.
[5] Ibid., p. 103.
[6] J. Rawls, Théorie de la justice (Titre original : A Theory of Justice), Éditions de Seuil, 1987 et 1997 pour la traduction française.
[7] A. Sen đã nhận giải Nobel Kinh tế năm 1998; sau đó, ông mở rộng tầm nhìn của mình sang cả triết học luân lý và chính trị.
[8] Thuật ngữ mới này được dịch sang tiếng Pháp từ thuật ngữ « capability » (năng lực) do Amartya Sen đề xuất.
[9] A. Comte-Sponville, op.cit., p. 122.
[10] Để biết thêm chi tiết về vấn đề này, nên đọc bài thuyết trình của nữ tu Geneviève Médevielle, « Giáo huấn xã hội của Giáo hội về công lý », một bài thuyết trình được trình bày trong Tuần lễ Xã hội Pháp năm 2006, tập trung vào chủ đề “Xã hội công bằng là gì?” (tài liệu có sẵn trực tuyến).
[11] Xem Toát yếu HTXHCG ở số 197, bàn về mối quan hệ giữa các nguyên tắc và các giá trị trong HTXHCG.
[12] Huấn thị này muốn làm rõ các nguyên tắc của một nền thần học giải phóng đích thực, khuyến khích sự ưu tiên chọn lựa người nghèo, đồng thời bác bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác.
[13] Đây là một biểu hiện đặc trưng của Đức Giáo hoàng Phanxicô và nền thần học sâu sắc của ngài về dân chúng, vốn cũng là một nền thần bí của dân chúng. Đối với ngài, nền thần bí bình dân giống như một « nền linh đạo đích thực được nhập thể trong nền văn hóa của những người bình thường », đồng thời xem nó như một « nơi thần học » (xem EG 124 và 126).
[14] Các chuyên gia đều đồng ý định nghĩa công lý môi trường là một khuôn khổ đạo đức nhằm đảm bảo sự phân phối công bằng các tác động và trách nhiệm liên quan đến biến đổi khí hậu và các rối loạn môi trường khác, đặc biệt là bảo vệ các cộng đồng dễ bị tổn thương và lên án các nguồn gây ô nhiễm chính.
[15] Ở đây, chúng ta có thể nghĩ đến các ủy ban sự thật và hòa giải đã được thành lập ở nhiều quốc gia hoặc khu vực trên thế giới sau các thời kỳ độc tài và đàn áp chính trị, nội chiến, hoặc thậm chí là diệt chủng. Những ủy ban này đã làm nên các thành phần của một nền công lý chuyển tiếp, vốn cũng hướng tới công lý phục hồi trong tinh thần hòa giải dân tộc.
[16] Thành ngữ « chiến tranh chính đáng/công bình », vốn thuộc về truyền thống, hầu như đã biến mất khỏi các văn bản chính thức của Giáo hội Công giáo kể từ Công đồng Vatican II. Nó chỉ rõ giáo huấn được các nhà luân lý học xây dựng từ thời Trung cổ để xác định trong những trường hợp nào thì việc sử dụng vũ khí là chính đáng.
[17] Và xác nhận rằng Đức Giáo hoàng Lêô XIV thực sự là người thừa kế xứng đáng của Đức Lêô XIII, người đã khởi xướng HTXHCG như đã được hiểu từ cuối thế kỷ XIX, với thông điệp Rerum novarum được ban hành năm 1891.

