spot_img
Thêm
    Trang chủCầu Nguyện & Suy NiệmChúa Nhật & Lễ TrọngChúa Nhật 2 Phục Sinh: Chúa Nhật Về Lòng Thương Xót Của...

    Chúa Nhật 2 Phục Sinh: Chúa Nhật Về Lòng Thương Xót Của Thiên Chúa

    BÀI ĐỌC I: Cv 2, 42-47

    Khi ấy, các anh em bền bỉ tham dự những buổi giáo lý của các Tông đồ, việc thông hiệp huynh đệ, việc bẻ bánh và cầu nguyện. Mọi người đều có lòng kính sợ. Vì các Tông đồ làm nhiều việc phi thường và nhiều phép lạ tại Giêrusalem, nên mọi người đều sợ hãi. Tất cả mọi kẻ tin đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ bán tài sản gia nghiệp, rồi phân phát cho mọi người tuỳ nhu cầu từng người. Hằng ngày họ hợp nhất một lòng một ý cùng nhau ở trong đền thờ, bẻ bánh ở nhà, họ dùng bữa cách vui vẻ đơn sơ; họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân mến chuộng. Hằng ngày Chúa cho gia tăng số người được cứu rỗi.

    BÀI ĐỌC II: 1 Pr 1, 3-9

    Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả, nhờ việc Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống, được hưởng gia nghiệp không hư nát, tinh tuyền, không suy tàn, dành để cho anh em trên trời. Anh em được bảo vệ trong quyền năng của Thiên Chúa, nhờ tin vào sự cứu độ đã được mạc khải trong thời sau hết. Lúc đó anh em sẽ vui mừng, tuy bây giờ anh em phải sầu khổ một ít lâu giữa trăm chiều thử thách, để đức tin anh em được tôi luyện, nên quý hơn vàng được thử lửa bội phần, nhờ đó, anh em được ngợi khen, vinh quang và vinh dự khi Đức Giêsu Kitô hiện đến. Anh em yêu mến Ngài, dù không thấy Ngài, và anh em tin Ngài, dù bây giờ anh em cũng không thấy Ngài; bởi anh em tin, anh em sẽ được vui mừng vinh quang khôn tả, vì chắc rằng anh em đạt tới cứu cánh của đức tin là phần rỗi linh hồn.

    PHÚC ÂM: Ga 20, 19-31

    Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: “Bình an cho các con”. Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: “Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”. Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Điđymô, không cùng ở với các ông khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa”. Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin”. Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: “Bình an cho các con”. Đoạn Người nói với Tôma: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”. Tôma thưa rằng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” Chúa Giêsu nói với ông: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”. Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

    Suy Niệm 1: TIN DỰA TRÊN LỜI CHỨNG

    Ngày Chúa nhật 2 Phục sinh, ‘Chúa nhật Tôma’, được chọn để Kính Lòng Chúa Thương Xót. Thật là ý nghĩa! Chúng ta không thể không cảm kích khi nghe lời Chúa Phục sinh dịu dàng nói với một Tôma cứng tin vì đang đề kháng lại lời chứng của các anh em khác: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”.
    Những dấu thương tích ấy, đặc biệt dấu thương tích ở cạnh sườn, là bằng chứng hùng hồn của tình yêu thương xót. Chúa Giêsu mời Tôma trực tiếp sờ chạm vào bằng chứng ấy, trực tiếp kinh nghiệm sự thật nền tảng và thâm sâu nhất ấy… Để điều mà Tôma nhận được ở đây không chỉ là được thấy, được gặp, được sờ chạm, mà nhất là cảm nghiệm rằng mình được yêu, được thương xót vô hạn!
    Tôma giác ngộ: “Lạy Chúa con! Lạy Thiên Chúa của con!” Lời tuyên xưng hoàn chỉnh và chính xác nhất mà Chúa Giêsu mong chờ nơi tất cả mọi người chúng ta! Đó không chỉ là tuyên xưng đức tin, mà còn là tuyên xưng lòng yêu mến và niềm hy vọng… Chính lúc này, Chúa xác nhận với Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin!” Điều này thật thực tiễn cho chúng ta – vì nói chung tất cả chúng ta đều được kỳ vọng ‘không thấy mà tin’. Không phải một thứ niềm tin mù quáng, vô căn cứ, mà là có căn cứ trên lời chứng! Chúng ta không thấy Chúa, không gặp Chúa hữu hình, không sờ chạm Chúa trực tiếp…, nhưng chúng ta có các chứng từ của các chứng nhân, bắt nguồn từ những chứng nhân trực tiếp như Tôma và các Tông đồ… (x. Ga 20,19-31).
    Về sau này, thánh Phê rô xác nhận con đường tiếp cận đức tin của các tín hữu: “Anh em yêu mến Ngài, dù không thấy Ngài, và anh em chưa được giáp mặt Ngài mà lòng vẫn kính tin; bởi anh em tin, anh em sẽ được vui mừng vinh quang khôn tả, vì chắc rằng anh em đạt tới thành quả của đức tin là ơn cứu độ con người”… (x. 1Pr 1,3-9). Bạn thấy đó, điều quan trọng là tin – và người ta vẫn có thể tin dù không thấy.
    Lòng tin đặt nơi Chúa Phục sinh ấy sẽ hình thành một cộng đoàn đầy ắp yêu thương như sách Công vụ mô tả: “Tất cả mọi kẻ tin đều sống hoà hợp với nhau và để mọi sự làm của chung”… (x. Cv 2,42-47). Các tín hữu sống hoà hợp với nhau vì họ yêu thương nhau. Họ để mọi sự làm của chung cũng vì họ yêu thương nhau. Và họ có cái khả năng yêu thương nhau như vậy bởi vì tất cả họ đều cảm nghiệm mình nhận được tình yêu thương xót vô hạn của Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu Kitô. Thánh vịnh 117 (Đáp ca) nói thay tâm tình của họ: “Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì lòng từ bi thương xót của Người muôn thuở”!
    Lộ trình mà toàn bộ cấu trúc Lời Chúa của Chúa nhật ‘Lòng Thương Xót’ hôm nay đề ra cho chúng ta:
    Nghe lời chứng -> tin và cảm nghiệm lòng Chúa thương xót -> liên kết với nhau trong cộng đoàn đức tin, cũng là cộng đoàn yêu thương, được diễn tả qua sự hoà hợp và chia sẻ…

    Đó cũng chính là lời chứng mà chúng ta, đến lượt mình, trao cho thế giới!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    …………………….
    Suy Niệm 2: SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI: MỤC ĐÍCH TỐI HẬU CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

    Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Hai Phục Sinh. Giáo Hội cũng dành Chúa Nhật hôm nay để mừng kính Lòng Chúa thương xót. Chúng ta cùng nhau để lời Chúa hướng dẫn hầu giúp chúng ta hiểu và thực hành lòng thương xót Chúa trong từng ngày sống của mình.

    Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta hình ảnh tuyệt hảo của cộng đoàn tín hữu đầu tiên. Chúng ta dễ dàng nhận ra những đặc tính quan trọng làm nên một cộng đoàn hiệp nhất một lòng một ý. Một cách cụ thể, tác giả sách Công Vụ Tông Đồ trình bày về đời sống tương quan bên trong của cộng đoàn bao gồm những đặc tính sau: (1) “các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2:42); (2) “mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ” (Cv 2:43); (3) “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu” (Cv 2:44-45). Chính đời sống hiệp nhất trong yêu thương và phục vụ này mà cộng đoàn tín hữu đầu tiên được mọi người yêu mến và trở thành chứng nhân của Chúa cho mọi người: “Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2:46-47).

    Lòng thương xót Chúa được thể hiện trong đời sống hiệp nhất, yêu thương và tha thứ của mọi tín hữu dành cho anh chị em mình. Làm sao chúng ta có thể nói đến lòng Chúa thương xót khi chính trong gia đình, trong hội đoàn, trong giáo xứ, trong giáo phận hoặc trong Giáo Hội sống trong sự tranh chấp và chia rẽ? Nhiều người trong chúng ta hiểu lòng thương xót Chúa chỉ giới hạn trong việc tha thứ hoặc chữa lành bệnh trên thân xác. Lòng thương xót Chúa thể hiện cách tuyệt hảo nhất trong việc chữa lành căn bệnh thiêng liêng để chúng ta đến với Chúa và đến với nhau trong sự chân thành, cảm thông và tha thứ. Một người nói rằng ‘tôi là người sùng kính và cổ võ lòng thương xót Chúa và tôi đã cảm nghiệm được lòng thương xót của Ngài mà còn nghĩ xấu, nói xấu, gây chia rẽ và nhất là còn giữ hận thù, ghen ghét người khác trong lòng thì là một kẽ nói dối! Sự yếu đuối của con người luôn gặp với lòng Chúa thương xót, và khi đã gặp rồi, con người trở nên can đảm để sống yêu thương và hiệp nhất với người khác để làm việc tốt hầu làm chứng cho người khác về lòng thương xót của Chúa.

    Trong bài đọc 2, Thánh Phêrô trình bày việc Chúa tỏ lòng thương xót với chúng ta qua việc làm cho chúng ta được trở nên những người được thừa hưởng kho tàng ở trên trời qua Đức Giêsu Kitô: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại, để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em, là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng ơn cứu độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết” (1 Pr 1:3-5). Tuy nhiên, để hưởng được gia tài quý báu này, đức tin của chúng ta phải được thanh luyện qua những thử thách và đau khổ (x. 1 Pr 1:6-7). Một trong những thử thách quan trọng nhất là việc chúng ta giữ được sự trung thành trong đức tin và tình yêu của mình dù chúng ta không thấy Chúa: “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người” (1 Pr 1:8-9). Chúng ta thường nghe rằng: “Xa mặt thì cách lòng.” Trong trường hợp này ít ra chúng ta chỉ xa người mà chúng ta quen biết thôi chứ chúng ta cũng đã thấy người đó. Trong trường hợp đức tin, chúng ta không thấy Chúa với con mắt thể lý của mình. Nhưng chúng ta vẫn yêu vì chúng ta cảm nghiệm được Ngài rất gần với chúng ta chứ không có “xa mặt.” Lòng thương xót của Chúa thể hiện ở việc luôn luôn ở gần chúng ta và ban cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất để chúng ta tăng trưởng trong tình bác ái. Về phía chúng ta, chúng ta cần mở lòng ra trước mọi biến cố của cuộc sống, nhất là trong những giây phút đau khổ và đứng vững trong đức tin và tình yêu.

    Lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ cách trọn vẹn nơi Chúa Giêsu. Chúng ta thấy rõ điều này nơi thái độ của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ và nhất là với Tôma được trình bày trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúng ta thấy bài Tin Mừng hôm nay được chia ra ba phần: (1) Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ; (2) Chúa Giêsu hiện ra với Tôma; (3) mục đích của Tin Mừng. Trong phần đầu, chúng ta thấy Thánh Gioan sử dụng câu chuyện truyền thống của Chúa Giêsu hiện ra cho các môn đệ ở Giêrusalem để chỉ ra rằng những lời hứa về việc Chúa Giêsu trở lại sẽ được hoàn thành trong ‘giờ’ Chúa Giêsu được tôn vinh. Chi tiết đầu tiên chúng ta có thể suy gẫm là món qua đầu tiên của Chúa Giêsu Phục Sinh cho các môn đệ: “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Thánh Gioan đã thêm vào câu chuyện chi tiết các môn đệ sợ người Do Thái để giới thiệu câu chuyện. Những chi tiết khác như việc Chúa Giêsu bất ngờ hiện ra giữa các ông và chúc các ông được bình an thì được tìm thấy trong truyền thống (x. Lc 24:36). Trong chi tiết đầu tiên này, Thánh Gioan chỉ cho thấy không có gì có thể so sánh với món quà “bình an” giữa những lo lắng và sợ hãi của cuộc sống. Chỉ có món quà bình an mới có thể giúp cho họ nhìn thấy ý nghĩa của những gì đã xảy ra trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đây chính là món quà mà Chúa Giêsu cũng ban cho mỗi người chúng ta trong những giây phút đau buồn. Chỉ có như thế, chúng ta mới hiểu hết được ý nghĩa của những đau khổ mình phải chịu. Điều này được Thánh Gioan trình bày qua việc Chúa Giêsu cho các môn đệ xem các vết thương của Ngài. Với món quà bình an, xem xong các “môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20:20). Thật vậy, Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ biết rằng Đấng Phục Sinh cũng chính là Đấng Chịu Đóng Đinh. Điều này cũng là một phần của truyền thống (x. Lc 24:39). Nhưng trong bối cảnh của Tin Mừng Thánh Gioan, chi tiết này nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi: “Họ đã để Ngài ở đâu?” “Họ” [người Do Thái] đã không để thân thể Chúa Giêsu ở đâu cả. Thân thể Ngài được đưa vào trong vinh quang thiên đàng của Chúa Giêsu Phục Sinh. Điều này mang lại niềm vui cho các môn đệ. Niềm vui của các môn đệ là sự hoàn thành của lời hứa mà Chúa Giêsu đã nói, niềm vui của họ sẻ được canh tân và nên trọn vẹn (x. Ga 14:27).

    Trong phần 1, chúng ta cũng nghe về việc chúa Giêsu sai các môn đệ đi để mang sứ điệp tha thứ đến cho mọi người: “Người lại nói với các ông: ‘Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.’ Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ’” (Ga 20:21-23). Để trở thành người được sai đi mang sứ điệp tha thứ, các môn đệ cần món quà bình an qua sự hiện diện của Thánh Thần. Bình an là một món quà được hứa ban cho các môn đệ (x. Ga 14:27). Theo các học giả Kinh Thánh, sự sai đi trong Tin Mừng Thánh Gioan có thể được áp dụng cho toàn bộ cộng đoàn những người tin chứ không chỉ một nhóm cụ thể nào trong cộng đoàn, ví dụ như nhóm Mười Hai. “Quyền” tha thứ có thể được diễn tả qua việc trao ban Thánh Thần trên những ai tin như là kết quả của sứ vụ của các môn đệ và những ai gia nhập cộng đoàn hơn là quyền để đối xử với những thành viên phạm tội trong cộng đoàn. Chi tiết này cho thấy, chỉ những người có sự bình an của Chúa Phục Sinh mới trở nên khí cụ hữu hiệu để mang ơn tha thứ đến cho người khác. Nói cách cụ thể hơn, chỉ những người cảm nghiệm được sự bình an đến từ sự hiện diện của Thánh Thần, Đấng thánh hoá và tha thứ mọi tội lỗi của họ, mới có thể hiểu được ý nghĩa của sự tha thứ và như thế trở nên nhân chứng của sự tha thứ.

    Phần 2 trình bày cho chúng ta hành trình cá vị hoá đức tin của mỗi người qua hình ảnh của Tôma. Nhiều người trong chúng ta sống theo số đông: ai làm gì, tôi làm đó; ai tin gì, tôi tin đó mà không biết cá vị hoá đức tin của mình. Nói cách khác, một người có đức tin vững mạnh là người biến những gì “chúng tôi tin” [những điều Giáo Hội tin] thành những gì “tôi tin” [niềm tin cá vị của tôi mà qua đó Chúa đến gặp tôi và tôi gặp Chúa]. Chúng ta thấy Tôma không dễ dàng tin những điều các môn đệ khác nói: “Các môn đệ khác nói với ông: ‘Chúng tôi đã được thấy Chúa!’ Ông Tôma đáp: ‘Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin’” (Ga 20:25). Chúng ta thường cho rằng Thánh Tôma là ông thánh nghi ngờ. Không phải vậy! Hình trình đức tin của Thánh Tôma là hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Nhất là trong Tin Mừng của mình, qua hình ảnh Thánh Tôma, Thánh Gioan muốn tóm kết là những đặc điểm chính trong hành trình đức tin mà thánh sử đã trình bày qua nhiều hình ảnh trong Tin Mừng. Hành trình đức tin này bao gồm những đặc tính sau: (1) Lời mời gọi trở thành người tin để đón nhận món quà bình an: “Rồi Người bảo ông Tôma: ‘Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin’” (Ga 20:27); (2) Thánh Tôma tuyên xưng đức tin: “Ông Tôma thưa Người: ‘Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!’” (Ga 20:28); (3) và phúc lành cho những ai qua ông mà tin: Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!’” (Ga 20:29). Tóm lại, hành trình đức tin bao gồm: lời mời gọi – tuyên xưng – sai đi làm chứng nhân. Như vậy, đức tin không phải là một cái gì chết, nhưng là một động lực sống động hay đúng hơn là sức mạnh làm cho chúng ta trở nên những chứng nhân của bình an và sự tha thứ mà Chúa Giêsu Phục Sinh đã mang lại cho chúng ta.

    Bài Tin Mừng kết thúc với việc trình bày mục đích của Tin Mừng: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20:30-31). Những lời này giống với những lời trong Ga 21:24-25 và 1 Ga 5:13. Theo các học giả Kinh Thánh, những lời trên được xem như là phần kết thúc của Tin Mừng trước khi nó được thêm vào chương 21. Mục đích của Tin Mừng là viết lại những “dấu lạ” Chúa Giêsu đã thực hiện. Nhưng những dấu lạ này đưa người xem đến đức tin vào Chúa Giêsu như là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa. Đức tin này chính là suối nguồn của sự sống đời đời (x. Ga 3:15-16:36). Trong bối cảnh Tin Mừng Thánh Gioan, việc Chúa Giêsu Phục Sinh có thể được hiểu là “dấu lạ” cuối cùng trong tương quan của Ngài với Chúa Cha, mặc dù thánh sử dường như giới hạn những dấu lạ vào các phép lạ được thuật lại trong phần đầu của Tin Mừng như lời chứng của Chúa Giêsu trước thế gian rằng Ngài là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta rằng lời Chúa chứa đựng thức ăn nuôi dưỡng đức tin chúng ta vào Đức Kitô, đồng thời mang lại cho chúng ta sự sống đời đời. Đây chính là mục đích tối hậu của lòng thương xót Chúa dành cho mỗi người chúng ta.

    Lm. Anthony, SDB.

    ……………………………

    Suy Niệm 3: BÌNH AN CHO CÁC CON


    A. DẪN NHẬP

    Sau khi Đức Giêsu chịu chết và táng trong mồ, các môn đệ bàng hoàng lo lắng vì, theo các ông, chết là hết, bao nhiêu mộng ước đã tan thành mây khói. Nhưng Chúa Giêsu đã hiện ra để củng cố đức tin cho các ông, yên ủi các ông, nâng đỡ các ông, đem sự bình an và niềm vui đến cho các ông. Trong niềm tin tưởng đó, các ông hãy đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.  Tuy được niềm tin và niềm vui Phục sinh nâng đỡ, các ông cũng phải gặp nhiều gian nan thử thách trong cuộc sống :”Anh em sẽ được vui mừng mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách”. 

    Trong những lần hiện ra với các môn đệ, Đức Giêsu đặc biệt quan tâm đến lời chào các ông:”Bình an cho các con”(Ga 20,19). Phải chăng đây là quà tặng của Chúa Giêsu Phục sinh tặng ban cho các ông ? Đúng vậy, đây không phải chỉ là lời chào thông thường của người Do thái chào nhau mà còn có ý nghĩa thâm thúy hơn. Bình an mà Chúa Phục sinh ban cho các ông là ân ban của Chúa Thánh Thần giúp các ông giữ vững được tình yêu đối với Chúa và kiên tâm rao giảng Tin mừng trong những hòan cảnh phức tạp.

    Muốn đón nhận và kiên trì giữ được sự bình an ấy, chúng ta phải cố gắng thực hiện : mặt tiêu cực là đừng phạm tội vì tội là phản nghịch cùng Chúa, sẽ gây xáo trộn trong tâm hồn ; mặt tích cực là phải nỗ lực xây dựng sự bình an trong tâm hồn mình trong mọi hòan cảnh, dù gặp những phong ba bão táp trong cuộc đời. Sự bình an đích thực chỉ có được nơi những tâm hồn biết chiến đấu chứ không phải cho những người ngồi chờ sự an nhàn hưởng thụ.


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    + Bài đọc 1 : Cv 2,42-47.

    Sau ngày lễ Hiện xuống, các tông đồ chia nhau đi rao giảng Tin Mừng, bắt đầu từ Giêrusalem. Cộng đoàn tín hữu sơ khai này có một điểm nổi bật đó là tình huynh đệ keo sơn. Mọi thành viên trong cộng đoàn yêu thương nhau, chỉ có một trái tim, một tấm lòng, một linh hồn : họ cùng nhau chia sẻ lời Chúa, tham dự lễ nghi bẻ bánh, góp của riêng thành của chung, phân phát cho nhau để không một ai trong cộng đoàn phải đói khát. Cộng đoàn tiên khởi này là khuôn mẫu tình huynh đệ cho Kitô hữu hôm nay. Cần phải trở về nguồn, cần phải canh tân đời sống Giáo hội theo khuôn mẫu cộng đoàn tiên khởi ấy.

    + Bài đọc 2 : 1Pr 1,3-9. 

    Trong thư gửi cho tín hữu ở Tiểu Á, thánh Phêrô đã nói lên tâm tình cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa vì Người cho ta được tái sinh nhờ việc Đức Kitô sống lại từ cõi chết.  Ngài khuyên nhủ các tín hữu, trong niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh, hãy sống trung thành với ơn gọi của mình trong mọi hoàn cảnh. Theo Ngài, những khó khăn thử thách mà Kitô hữu phải đối diện hằng ngày là nhằm thanh luyện và củng cố đức tin vì đức tin phải được thử thách mới có giá trị. Vì thế, các tín hữu hãy sống trong hy vọng về sự phục sinh của mình để sống vui tươi và vững vàng trong mọi cơn gian nan thử thách.

    + Bài Tin Mừng : Ga 20,19-31. 

    Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan thuật lại cho chúng ta hai lần hiện ra của Chúa Giêsu. Lần thứ nhất là ngay chiều phục sinh và lần thứ hai là sau tám ngày.  Mặc dù bà Maria Madalena đã báo cho các tông đồ biết rằng Chúa đã hiện ra với bà, nhưng các ông không tin.  Chúa Giêsu phải hiện ra trước mặt các ông để các ông tin rằng Ngài đã sống lại như lời đã báo trước.  Ngài hiện ra để củng cố đức tin cho các ông, đem lại an bình và niềm vui cho các ông để các ông vững mạnh đi rao giảng Tin mừng. Chính các ông sẽ là chứng nhân của việc Chúa sống lại. Còn sự cứng lòng tin của ông Tôma chỉ là cơ hội khơi lại đức tin nơi các tông đồ, giúp các ông vững tin trong việc rao giảng Tin mừng mặc dù gặp gian nan thử thách.

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

                                                     Bình an cho các con

    I. ĐỨC GIÊSU BAN BÌNH AN CHO CÁC MÔN ĐỆ

    Chúng ta đang ở vào cuối tuần bát nhật Phục sinh. Mầu nhiệm lớn lao của Chúa Phục sinh còn đang chi phối tâm hồn chúng ta. Bài Tin mừng hôm nay vẫn còn tiếp tục bàn về việc Chúa sống lại hiện ra với các Tông đồ.

    Đức Giêsu đã sống lại được một tuần rồi, hôm nay thánh Gioan kể gồm hai lần Chúa hiện ra : một lần hiện ra ngay chính chiều ngày Chúa sống lại không có mặt Tôma và một lần có mặt Tôma. Mục đích việc Chúa hiện ra là làm cho các Tông đồ tin rằng Ngài đã sống lại thật.

    Mặc dầu đã được Kinh Thánh cũng như Đức Giêsu báo trước về Ngài, các môn đệ vẫn tỏ ra bàng hòang khi chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu. Ông Phêrô thì chối Chúa, các môn đệ hầu hết đã bỏ trốn chỉ còn một số ít theo Ngài xa xa. Bao nhiêu mộng ước của các ông dường như đã tiêu tan cùng với cái chết của Thầy mình. Khi được báo tin Chúa sống lại, các ông vẫn còn bán tín bán nghi. Đức Giêsu đã phải hiện ra nhiều lần để trấn an, giải thích và củng cố niềm tin cho các ông.

    Tin mừng của thánh Gioan hôm nay thuật lại hai lần hiện ra của Đức Giêsu với các môn đệ trong phòng cửa đóng kín và lời đầu tiên của Ngài là lời chúc bình an cho các ông. Trong cả hai lần gặp gỡ, Đức Giêsu đã lập lại lời chúc này tới ba lần :”Bình an cho các con”. Ngài đã cho các ông xem tay chân và cạnh sườn Ngài, các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa, nhưng lần này vắng mặt Tôma.

    Tám ngày sau các môn đệ lại tụ họp trong nhà, có cả Tôma ở đó nữa. Trong khi các cửa đều đóng kín, Đức Giêsu đến đứng giữa các ông, và sau lời chào bình an Ngài bảo Tôma :”Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”(Ga 20,27). Xem ra Chúa có ý trách ông Tôma vì sự cứng lòng của ông, nhưng chính nhờ đó mà các môn đệ, và các thế hệ sau này là chúng ta có thêm bằng chứng mạnh mẽ về việc Chúa sống lại. Ở những lần hiện ra khác, Đức Giêsu cũng tỏ ra ân cần và thân mật khi gặp gỡ, giải thích Kinh Thánh hoặc cùng ăn cùng uống với các ông.

    Sau khi chỗi dậy từ cõi chết, món quà đầu tiên mà Đức Giêsu trao tặng cho các môn đệ không phải là những gì kiêu sa, huy hòang hay lộng lẫy, mà là một câu nói đơn sơ chất chứa tấm lòng chân thành thương yêu và săn sóc :”Bình an cho các con”(Ga 20,19).

    Chính  vì yêu thương, Đức Giêsu đã đi bước trước và sớm nhận ra nhu cầu thiết yếu của các môn đệ trong hòan cảnh lúc đó. Đức Giêsu đã trấn an, củng cố niềm tin  và ban Thánh Thần để gìn giữ các ông. Một trong những điểm nổi bật khiến chúng ta nên dừng lại và cùng suy tư tại sao  Đức Giêsu lại lặp đi lặp lại nhiều lần lời chúc bình an trong đọan Tin mừng hôm nay.

    Phải chăng Ngài muốn nhấn mạnh cho chúng ta biết ý nghĩa thâm sâu  của nguồn bình an đích thực ? Không có bình an của Đức Kitô, cuộc đời các môn đệ khi xưa cũng như mọi người chúng ta hôm nay sẽ dễ dàng bị lún sâu trong phiền muộn, chán nản thất vọng và dần dần sẽ đánh mất đi niềm tin của mình.


    II. BÌNH AN TRONG CUỘC SỐNG CHÚNG TA
     

    1. Lý do cần sự bình an 

    Đọc những trình thuật Phục sinh trong bốn cuốn sách Tin mừng, chúng ta nhận thấy các tác giả đều nhắc lại lời chào của Đức Giêsu đối với các môn đệ :”Bình an cho các con”. Chúng ta phải thắc mắc tại sao Đức Giêsu chúc bình an cho các ông nhiều như vậy. Chắc hẳn phải có vấn đề khi Ngài chúc bình an cho các ông.

    * Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giêsu đứng giữa các ông và bảo :”Bình an cho các con”(Lc 24,37). 

    * Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái, Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói:”Bình an cho các con”(Ga 20,19).

    * Người lại nói với các ông :”Bình an cho các con ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con”(Ga 20,21).

    * Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói :”Bình an cho các con” (Ga 20,26).

    Đức Giêsu chúc bình an nhiều như vậy, chắc chắn tâm hồn các môn đệ đang ở trong trạng thái hoang mang SỢ HÃI và mất BÌNH AN. Họ thiếu thốn bình an cho nên công việc đầu tiên khi Đức Giêsu hiện ra với họ là phải cung cấp ngay cho họ sự bình an của Ngài. Nếu đọc lại trình thuật Phục sinh trong Tin mừng của thánh Luca và của thánh Gioan một lần nữa, ta thấy cả hai thánh sử đều nói rằng khi các môn đệ đối diện với Đức Giêsu Phục sinh thì họ đang ở trong tâm trạng kinh ngạc, nghi ngờ và sợ hãi.

    Ai ở trong tâm trạng sợ hãi thì mất bình an. Kinh nghiệm cũng cho chúng ta thấy những lúc tâm hồn bị những SỢ HÃI thống trị và bao trùm cuộc đời của chúng ta thì lúc đó tâm hồn chúng ta mất bình an.  Sau này, chúng ta thấy Đức Giêsu khuyên các môn đệ cũng như chúng ta ngày nay là ĐỪNG SỢ. Hai chữ “Đừng sợ” được nhắc rất nhiều lần trong Kinh Thánh, nhất là trong Tân ước.

    1. Thế giới thiếu bình an 

    Có lần người ta hỏi đại thi hào DANTE của nước Italia rằng : đâu là điều mà ông mong mỏi và tìm kiếm nhất trong cuộc sống ? Bậc vĩ nhân đã trả lời như sau :”Tôi vẫn luôn đi tìm kiếm điều mà bất cứ ai cũng tìm kiếm : đó là sự bình an”.

    Đó là điều mà chúng ta  vẫn cầu xin cho người quá cố : trên bia mộ, chúng ta luôn ghi lời cầu xin : requiescat in pace : xin cho họ được an nghỉ ngàn thu. Phải chăng trong cuộc sống hiện tại nơi trần thế này, chúng ta sẽ không bao giờ  tìm được hòa bình và an nghỉ ? Trong những giây phúc cuối đời, Đức Giêsu đã hứa hẹn với chúng ta :”Thầy ban bình an cho các con. Thầy ban bình an mà thế gian không thể ban tặng cho các con”.

    Trước Chúa Kitô 600 năm tại Rôma, một đền thờ đã được xây lên để kính nhớ thần Janus, vị thần mà người ta  đã lấy tên để đặt cho tháng đầu tiên trong năm. Theo ước mong của tòan dân trong đế quốc La mã, đền thờ này chỉ được mở cửa trong thời bình. Trong vòng 600 năm ấy, dường như các cửa của đền thờ chỉ được mở trong ba giai đọan ngắn ngủi. Cánh cửa Hòa bình đóng mãi đối với con người ở mọi thời đại.

    Thời đại nào thế giới cũng mong hòa bình, thời đại nào con người cũng đợi hòa bình. Khát vọng của Hòa bình  ăn rễ sâu trong lòng người, ngay cả những người  suốt đời chỉ gieo rắc chiến tranh và đau thương cho người khác. Chúng ta thích khung cảnh tịch mịch thư thái, chúng ta ngây ngất trước ánh bình minh tươi sáng,  chúng ta vui thỏa trước buổi chiều tà êm ả, chúng ta thích những cánh hoa tươi mát v.v… Chúng ta thán phục những con người luôn tỏ ra bình thản  trước những hòan cảnh xáo trộn. Chúng ta đi tìm những tư tưởng bình an, những dòng nhạc êm dịu, những con người hiền lành (Đ.Ô  Nguyễn văn Tài).

    Thế giới của chúng ta  dường như chưa bao giờ được hưởng những giây phút thái bình thực sự. Hòa bình chỉ là những khỏanh khắc tạm bợ đầy những rình rập của chiến tranh và lo sợ.

                                          Truyện : Chiến tranh và hòa bình.

    Trong cuốn Le retour de Jésus Christ, tiến sĩ René Pache có cho biết : kể từ năm 1496 trước Thiên Chúa giáng sinh cho đến năm 1861 của thời đại chúng ta, tức trong khỏang 3400 năm, tính được tất cả 3130 năm chiến tranh, thế giới chỉ được hưởng 268 năm hòa bình. Như thế, trung bình cứ 13 năm chiến tranh thiên hạ mới được hưởng một năm hòa bình.

    Từ năm 1500 năm trước Thiên Chúa giáng sinh, cho đến năm 1860 đời ta, tính có tới 8000 hiệp ước hòa bình. Tuy mọi hiệp ước đều có giá trị vĩnh viễn, nhưng trên thực tế, hiệu quả của mỗi hiệp ước trung bình không quá hai năm. Chỉ trong 19 năm, giữa hai thế chiến (1920-1939) tính đã có đến 4568 hiệp ước hòa bình. Nguyên 11 tháng trước đệ nhị thế chiến, đã có tới 211 hiệp ước rồi.

    1. Muốn có bình an thật sự
      a) Tiêu cực : Phải tránh phạm tội 

    Muốn có sự bình an trong tâm hồn thì cần phải là người của Chúa. Thánh Phaolô giải thích Người của Chúa là người hòan hảo chính trực, đã được huấn luyện về mọi việc lành phải làm (2Tm 3,17).Thánh Ambrôsiô viết tiếp :”Người của Chúa phải là người sạch tội, vì tội và Chúa chống đối nhau. Đâu có Chúa đấy không có tội và ngược lại”. Thánh Phaolô viết :”Chúa chính là sự bình an của chúng ta”(Ep 2,14). Vậy thì muốn được sự bình an của Chúa – thứ bình an trong tâm hồn – tất nhiên phải sạch tội.

              Cái gì đã phá vỡ đời sống thanh nhàn của các thiên thần ? (Js 14,12-13).
    Cái gì đã làm cho tổ tông phải khóc lóc ? (St 3,11-12).
    Cái gì đã làm cho lòai người phải chìm đắm trong đại hồng thủy ? (St 6,5).
    Cái gì đã làm tháo thứ  và khiến lửa bởi trời xuống  đốt thành Sôđôma và năm thành kế cận ? (St 19,24).
    Cái gì đã làm cho Đavít khóc lóc mất ăn mất ngủ ? (Tv 6,7)
    Cái gì đã làm cho Phêrô đau đớn suốt đời ? (Lc 17,61-62).
    Cái gì đã làm cho Giuđa buồn rầu bứt rứt phải đi thắt cổ ? (Cv 1,18).
    Tất cả chỉ là TỘI. Hễ ở đâu có tội ở đấy không có bình an, vì lẽ sự bình an  không ưa người có tội (Is 48,22; 55, 21).

                                          Bắc thang thử hỏi ông Trời
                                 Những người phạm tội có ngồi yên không ?

    Họ không thể ngồi yên tại vì họ đã mất sự bình an. Mất sự bình an tức là mất Chúa vì Chúa chính là sự bình an của họ.

                                          Truyện : Thiếu trách nhiệm

    Bé Tám nhìn ba nó và nói :
    – Ba ơi, chiếc cầu bắc qua mương để vào nhà mình sắp gẫy, Ba sửa lại đi, kẻo có người bị té đó !
    – Con phải biết cách mà bước, đừng đặt chân giữa cầu, nhưng bước sát vào phía bờ thì không nguy hiểm đâu.
    Bé Tám không an lòng :
    – Nhưng những người gia đình mình không biết thì sao ba ?
    – Chuyện không liên quan gì đến con, con đi chơi đi, đừng hỏi nữa để ba lo việc khác.
    Thấy vẻ mặt không vui của ba, bé Tám không dám nài nỉ thêm.

    Tối đến, ông Bảy Minh đến gia đình bé Tám để từ giã, hai hôm nữa, ông Minh sẽ đi đòan tụ ở nước ngòai. Sau khi cạn tách trà, mọi người trong gia đình bé Tám ngậm ngùi tiễn người láng giềng ra về với những lời cầu chúc tốt đẹp  mà người ta vẫn thường trao nhau. Ba bé Tám là người lưu luyến nhất, sau cái bắt thay thật chặt, ông là người cuối cùng quay vào nhà. Mọi người đang bàn về người hàng xóm may mắn kia  thì có một tiếng động nặng nề như trái dừa rơi xuống đất. Bé Tám là người đầu tiên hét lên “Chết rồi ba ơi ! Ông Bảy té”. Cả nhà chạy ra thì quả đúng như vậy. Ông Bảy đang nằm bất động dưới mương sâu lởm chởm đá. Tấm ván làm cầu đã bị gẫy, ông Bảy bị thương nặng.

    Ba bé Tám ngượng ngùng, hối hận vì những lời cầu chúc bình an của ông trao cho người láng giềng đã không hiện thực. Vì thái độ vô tâm tắc trách của ông và vì ông không có tạo cơ hội cho lời cầu chúc có được cơ may thể hiện.

    b) Tích cực : Phải nỗ lực xây dựng 

    Hòa bình hay bình an không có nghĩa là không có chiến tranh, không có xáo trộn bên ngòai. Mà phải phấn đấu làm sao để tâm hồn có thể bình lặng trước những tiếng ồn ào, xáo trộn bên ngòai, tâm hồn vẫn có thể an nhiên trong mọi phong ba bão táp của cuộc đời.

                                          Truyện : Bức tranh diễn tả bình an.

    Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình an. Nhiều họa sĩ đã cố công thực hiện. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một.

    Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là bức tranh bình yên  thật hòan hảo.

    Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi  là dòng thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào.

    Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đàng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây, một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó, giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang an nhiên đậu trên tổ của mình… Bình yên thật sự.

              “Ta chấm bức tranh này” – Nhà vua công bố.

    Sự bình yên không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. Bình yên có nghĩa  ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự bình yên trong trái tim. Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của sự bình yên giữa thế giới  đang cần nỗ lực giành lấy trong cuộc sống này.

    Không có sự bình yên thật sự khi con người không dấn thân để xây dựng. Xây dựng từ nơi chính mình bằng đời sống công chính, yêu thương với đức ái đòi hỏi. Không có sự bình an không có đấu tranh cho sự thiện, không có sự bình an cho những người ngồi chờ sự an nhàn. Sự bình an mà Đức Giêsu ban tặng là sự bình an cho những con người chấp nhận những thử thách để vượt qua thử thách bằng sự bình an của Đức Giêsu.

                                          Truyện : Bình an trong tâm hồn.

    Một tu sĩ rất đau khổ vì tính nhạy cảm của mình. Sau nhiều ngày chịu đựng bản tính nóng nảy không tự chủ được, từ cử chỉ đến lời nói, tệ hơn nữa, anh ta luôn dành những phần phải về phía mình. Một hôm, anh tự nhủ :”Ta sẽ bình an, nếu ta vào sống trong sa mạc hoang vắng xa cách mọi người”.  Nghĩ sao làm  vậy, anh ta đã sống những ngày bình an, nhưng một buổi chiều nọ, anh đặt chiếc bình sành dùng để đựng nước xuống đất, không biết vì đất nơi ấy lồi lõm  hay vì ma quỉ muốn chọc phá, mà bình nước lật sang một bên đổ vỡ đôi, và làm đổ hết nước ra ngòai. Người ẩn tu hầm hầm nổi cơn thịnh nộ tưởng chừng như trời long đất lở.

    Khi nguôi cơn giận, anh ta nhìn ngắm chiếc bình đã bể và tự nhủ :”Tôi đã bỏ các anh em trong tu viện, nhưng khổ nỗi lại mang chính cái tôi vào sa mạc hoang vu này, không phải họ, nhưng là chính cái nóng nảy của tôi đã làm cho tôi mất bình an”. Ngay chiều hôm ấy, anh ta trở về tu viện, và qua thời gian, với ơn Chúa giúp và những cố gắng cá nhân, tính nóng nảy đã bớt dần và sự bình an gia tăng trong tâm hồn anh.

    Giáo hội luôn mời gọi chúng ta sống một cách thiết thực và sâu đậm lời của Đức Giêsu :”Bình an cho các con”, đó là lời chào luôn có trên môi miệng của Đấng Phục sinh. Thật ra, đây hẳn không phải là một lời chào thân thuộc của người Do thái, nhưng là ân ban mà Chúa Kitô Phục sinh đem lại cho con người. Bình an là nghịch lại với tất cả những gì sợ hãi, thất vọng, chết chóc. Bình an là đồng nghĩa với tin yêu, vui sống và hy vọng.

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà lạt

                                                                                                           

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com