spot_img
Thêm

    CHÚA NHẬT 6 TN/A

    BÀI ĐỌC I: Hc 15,16-21

    Nếu người muốn tuân giữ các giới răn: việc trung thành giữ các giới răn là tùy ở ngươi. Người đặt trước mặt ngươi nước và lửa, ngươi muốn cái gì, thì giơ tay ra trên đó. Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự lành và sự dữ, họ thích thứ nào, thì được thứ ấy. Bởi chưng, Thiên Chúa đầy khôn ngoan, hùng dũng và toàn năng. Người luôn luôn nhìn thấy mọi loài. Chúa nhìn đến những kẻ kính sợ Người, và thấu suốt mọi hành động của con người. Người không truyền dạy cho một ai làm điều gian ác, và không cho phép một ai phạm tội.

    BÀI ĐỌC II: 1Cr 2,6-10

    Anh em thân mến, chúng tôi có bàn giải sự khôn ngoan với những người toàn thiện, mà đó không phải là sự khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của những bậc vua chúa thế trần, hạng người đã bị dồn vào chỗ hư vong. Nhưng chúng tôi thuyết sự khôn ngoan đầy nhiệm mầu của Thiên Chúa, vẫn được giấu kín, mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn thuở, để làm nên sự hiển vinh của chúng tôi. Sự khôn ngoan đó, không một ai trong các vua chúa thế trần đã biết tới: vì giả thử nhận biết, hẳn họ đã không đóng đinh Chúa sự hiển vinh. Nhưng chúng tôi rao giảng như lời đã chép: “Sự mắt chưa từng thấy và tai chưa từng nghe, và lòng người cũng chưa từng mơ ước tới, đó là tất cả những điều Thiên Chúa đã làm ra cho những ai yêu mến Người”. Bởi chưng Thiên Chúa đã mạc khải điều đó cho chúng tôi, do Thánh Thần của Người.

    PHÚC ÂM: Mt 5, 17-37

    Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con đừng tưởng Ta đến để hủy bỏ lề luật hay các tiên tri. Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn. Vì Ta bảo thật các con: Cho dù trời đất có qua đi, thì một chấm một phẩy trong bộ luật cũng không bỏ sót, cho đến khi mọi sự hoàn thành. Bởi vậy, ai hủy bỏ một trong những điều luật nhỏ mọn nhất, và dạy người khác làm như vậy, sẽ kể là người nhỏ nhất trong Nước Trời; Trái lại, ai giữ và dạy người ta giữ những điều đó, sẽ được kể là người cao cả trong Nước Trời. Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu. Các con đã nghe dạy người xưa rằng: Không được giết người. Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án. Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẩn nộ với anh em mình, thì sẽ bị toà án luận phạt. Ai bảo anh em là ngốc, thì bị phạt trước công nghị. Ai rủa anh em là “khùng”, thì sẽ bị vạ lửa địa ngục. Nếu ngươi đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với ngươi, thì ngươi hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ngươi trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ. Hãy liệu làm hòa với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa ngươi ra trước mặt quan tòa, quan tòa lại trao ngươi cho tên lính canh và ngươi sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho ngươi biết: “Ngươi sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!” Các con đã nghe nói với người xưa rằng: “Chớ ngoại tình”. Còn Ta, Ta bảo các con: “Hễ ai nhìn xem phụ nữ mà ước ao phạm tội với họ, thì đã ngoại tình với họ trong lòng rồi. Nếu con mắt phải của con nên dịp tội cho con, thì hãy móc nó mà ném xa con; vì thà mất một chi thể còn lợi hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục. Và nếu tay phải con nên dịp tội cho con, thì hãy chặt mà ném nó xa con; vì thà mất một chi thể còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục”. Cũng có lời dạy rằng: “Ai ly dị vợi mình, trừ trường hợp tà dâm, thì làm cớ cho vợ ngoại tình; và ai cưới người vợ đã ly dị, cũng phạm tội ngoại tình”.

    Các con cũng đã nghe có lời bảo người xưa rằng: “Chớ thề gian, nhưng hãy giữ trọn lời mình thề với Chúa”. Còn Ta, Ta bảo các con: “Ðừng thề chi cả; đừng lấy trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa; đừng lấy đất mà thề, vì đất là bệ chân Người; đừng lấy Giêrusalem mà thề, vì là thành của Vua cao cả. Cũng đừng chỉ đầu ngươi mà thề, vì ngươi không thể làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được. Nhưng lời nói của các con phải là: Có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra”.

    Suy Niệm 1: CHÚA MUỐN CHÚNG TA LỰA CHỌN GÌ?

    Bạn thân mến,
    Lời Chúa hôm nay thật hàm súc và rất nền tảng. Bài đọc Huấn ca cho ta biết Thiên Chúa thấy gì, Ngài muốn gì, và chúng ta được thách đố để quyết định mình muốn gì.
    Thiên Chúa thấy gì? Ngài thấy tất cả mọi sự, Ngài tỏ tường mọi hành động của chúng ta, nghĩa là không chỉ bên ngoài, mà cả những động cơ thầm kín bên trong nữa. Thiên Chúa muốn gì? Ngài muốn mọi điều thiện hảo; Ngài “không truyền dạy cho một ai làm điều gian ác, và không cho phép một ai phạm tội”.
    Như vậy là quá rõ ràng rồi, phải không? Còn về phía mình, chúng ta cũng phải muốn, phải chọn lựa. Chúng ta được đặt trước nước và lửa, sống và chết, sự lành và sự dữ… và chúng ta phải quyết định lựa chọn thế nào, hoàn toàn tuỳ ở sự tự do của chúng ta (x. Hc 15,16-21).
    Nếu ta chọn chết, thì ta sẽ chết, vậy thôi. Còn nếu ta chọn sống, tức chọn điều thiện hảo là đường lối Chúa, thì ta sẽ sống – và đó là phước đức cho ta, như lời Thánh vịnh 118 (Đáp ca): “Phước đức những ai tiến thân trong luật pháp của Chúa.”
    Nhưng những điều Chúa muốn, hay ‘luật pháp của Chúa’, được Cựu ước nắm bắt vẫn còn mức nào đó khá mờ nhoà và chưa rõ nét. Chúa Giêsu sẽ gạn đục khơi trong, và Người dùng chính thẩm quyền của Người để nêu rõ điều Thiên Chúa muốn: “Anh em nghe người xưa dạy rằng […], còn Ta, Ta bảo anh em …” (x. Mt 5,17-37). Và đó là bối cảnh Chúa Giêsu tuyên bố những giáo huấn triệt để của Bài Giảng Trên Núi: Không được giận người, phải yêu kẻ thù, phải thứ tha vô điều kiện và vô giới hạn, phải tuyệt đối trung thực – có nói có, không nói không… vân vân.
    Bạn thân mến, đó là đường lối của Thiên Chúa, là sự khôn ngoan của Ngài. Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng sự khôn ngoan ấy vốn giấu ẩn. Nó không phải là sự khôn ngoan của thế gian, của các vua chúa thế trần. Sự khôn ngoan ấy đã được mặc khải nơi Chúa Giêsu, trong Thánh Thần. Và chúng ta lấy làm tiếc rằng thế gian và các vua chúa thế gian cũng đã không hiểu và không đón nhận (x. 1Cr 2,6-10).
    Trong suốt dòng lịch sử và cả ngày nay cũng vậy. Sự khôn ngoan của Tin Mừng, được chuyển tải trong tiếng nói của Giáo hội, nhất là trong các giáo huấn xã hội của Giáo hội, vẫn bị coi là kỳ cục bởi người ta, cách riêng bởi các nhà lãnh đạo của các quốc gia!…
    Chúng ta hãy cầu nguyện và hy vọng rằng các nhà cầm quyền sẽ hiểu và đón nhận sự khôn ngoan này. Phần chúng ta, đường lối và sự khôn ngoan của Thiên Chúa là sự lựa chọn tốt nhất và duy nhất!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    ………………………….
    Suy Niệm 2:  ĐỈNH CAO CỦA LUẬT LÀ SỐNG YÊU THƯƠNG 

    Hầu hết mọi người trong chúng ta thường xem luật lệ như là điều cản trở sự tự do của mình. Chúng ta nhìn điều răn hay luật lệ của Thiên Chúa và Giáo Hội như một gánh nặng hơn là phương tiện, hay đúng hơn kim chỉ nam, để thăng tiến trên con đường trọn hảo. Các bài đọc lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta suy gẫm về tầm quan trọng và mục đích của điều răn và huấn lệnh của Thiên Chúa.

    Trong bài đọc 1, tác giả sách Đức Huấn Ca cho chúng ta thấy việc tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa là ‘một quyết định để chọn làm điều đẹp ý Đức Chúa’: “Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn mà trung tín làm điều đẹp ý Đức Chúa” (Hc 15:15). Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta giữ luật hay tạo ra những luật làm đẹp lòng người hơn là làm đẹp lòng Thiên Chúa. Chúng ta giữ luật vì sợ hơn là vì yêu. Ví dụ như chúng ta đi lễ mỗi Chúa nhật là vì chúng ta sợ phạm tội bỏ lễ ngày Chúa nhật hơn là vì yêu Chúa nên chúng ta đến với Ngài. Mục đích của luật là để giúp chúng ta biết rằng mình có tự do để chọn lựa: theo hay không theo luật. Tác giả Sách Đức Huấn Ca cho chúng ta biết điều này trong những lời sau: “Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy. Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì, sẽ được cái đó” (Hc 15:16-17). Nếu chúng ta chọn sống theo huấn lệnh của Đức Chúa, chúng ta chọn cho mình con đường sống, chọn cho mình sự sống vĩnh cửu. Chi tiết này khuyến cáo chúng ta về những chọn lựa mà chỉ mang cho mình sự sống tạm thời trên thế gian này mà đánh mất sự sống vĩnh cửu. Thật vậy, cái nhìn của con người thì giới hạn, chỉ nhìn thấy cái gì hữu hạn trong thời gian chứ không nhìn thấy được sự vô hạn của vĩnh cửu. Để đạt được một chọn lựa đúng, chọn lựa mang lại sự sống vĩnh cửu, con người cần đi theo huấn lệnh của Đức Chúa.

    Về phần mình, thánh Phaolô chỉ cho các tín hữu Côrintô biết tất cả những gì ngài giảng dạy cho họ “là một lẽ khôn ngoan, nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của các thủ lãnh thế gian này, là những kẻ sớm muộn gì cũng phải diệt vong. Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển” (1 Cr 2:6-7). Sự khôn ngoan này không thể được cân, đo, đong, đếm theo tiêu chuẩn con người. Nó được giấu kín khỏi những người tự cho mình là thông thái, là khôn ngoan theo tiêu chuẩn con người, mà chỉ được mặc khải cho những ai yêu mến Thiên Chúa. Chi tiết này cho chúng ta thấy rằng chỉ những ai yêu mến Thiên Chúa mới hiểu được tầm quan trọng của luật Chúa và sự ‘ngu dại’ của thập giá Chúa Giêsu, hay nói cụ thể hơn là những đau khổ phải chịu khi sống theo luật Thiên Chúa.

    Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta hình ảnh Chúa Giêsu như là một Môsê mới, một Người không chỉ ban luật nhưng cắt nghĩa luật một cách mới mẽ. Chúng ta có thể chia bài Tin Mừng làm ba phần: phần 1 (5:17-19) nói về khẳng định của Chúa Giêsu về tầm qua trọng của luật củ; phần 2 (5:20) là tiêu chuẩn luân lý mới Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ; và phần 3 (5:21-37) là những áp dụng của tiêu chuẩn luân lý mới để giải thích những luật củ mà những người Pharisêu sống và bảo vệ.

    Trong phần 1, chúng ta thấy thái độ rất tích cực và cảm thông của Chúa Giêsu đối với di sản của người Do Thái là toàn bộ mặc khải của Cựu Ước dù cho nhiều lần Ngài chỉ trích một vài phát triển mà Ngài xem là có hại cho đời sống yêu thương của con người: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5:17-19). Chúng ta có thể hiểu ý nghĩa của những lời trên theo hai nghĩa sau: (1) Toàn bộ Cựu Ước có giá trị về tôn giáo cho những người theo Chúa Giêsu và phải được tiếp tục bảo quản, cầu nguyện, học hỏi và giảng dạy; (2) những gì trong luật Cựu Ước vẫn ràng buộc cách trực tiếp những người theo Chúa Giêsu. Những điều này được thực hiện nơi chính cuộc sống của Chúa Giêsu. Ngài sống di sản của dân tộc Ngài và làm cho mọi sự được hoàn thành nơi chính cuộc sống Ngài. Nói cách khác, những gì được viết trong Cựu Ước tìm thấy sự viên mãn và hoàn thành trong Đức Kitô. Là những người theo Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi tuân giữ cách cặn kẽ những huấn lệnh của Thiên Chúa vì, “ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời” (5:19).

    Sau khi chỉ ra tầm quan trọng của luật củ, Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đệ rằng khi họ theo Ngài họ không chỉ đơn thuần sống theo mặt chữ của luật như những người Pharisêu, mà phải sống ‘tinh thần’ luật được Thiên Chúa đặt đinh khi trao ban luật cho con người: “Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (5:20). Theo các học giả Kinh Thánh, câu này một cách rõ ràng là được Thánh Mátthêu thêm vào với mục đích cung cấp đề tài chính cho toàn bộ chương, đó là sự ‘công chính hơn’ của những người theo Chúa Giêsu. Đây chính là một trong những đặc tính của các Kitô hữu tiên khởi. Đối với Thánh Mátthêu, bản chất của những gì Chúa Giêsu mang đến là một nền luân lý và một sự công bình trỗi vượt hơn. Những gì Ngài mang đến là một nền đạo đức luân lý. Những người địch thủ của Ngài là những người thừa kết của người Pharisêu ở Jamnia. Ở đây, chúng ta cần lưu ý rằng Chúa Giêsu không nói cách minh nhiên là người Pharisêu sẽ không được vào Nước Trời. Câu này nhằm mục đích khuyến cáo các Kitô hữu phải sống theo tiêu chuẩn Ngài mang đến, nếu họ muốn vào Nước Trời.

    Phần 3 là những lời giải thích của Chúa Giêsu về những luật được ghi chép lại Torah và rất quan trọng trong đời sống thường ngày của người Do Thái. Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta việc Chúa Giêsu giải thích bốn trong sáu điều luật quan trọng, đó là về giận dữ, ngoại tình, ly dị và thề hứa. Tất cả đều đi theo một cấu trúc: quy chiếu về luật củ (“anh em đã nghe luật dạy rằng”), tiêu chuẩn mới được Chúa Giêsu đặt ra (“còn Thầy, Thầy bảo anh em”), việc cụ thể cần phải thực hiện. Chúng ta cùng nhau suy gẫm cách ngắn gọn những điều Chúa Giêsu dạy các môn đệ.

    Đầu tiên là việc giận người khác. Chúng ta thấy trong luật củ chỉ nói đến việc giết người. Nhưng Chúa Giêsu đưa các môn đệ về ‘nguồn gốc’ của việc giết người đó là giận dữ: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Bất cứ ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (5:21-22). Khi chúng ta giận một ai, dù không ‘giết họ’ một cách thể lý, chúng ta đã giết họ trong trái tim chúng ta. Cụ thể hơn là chúng ta đã loại trừ người đó ra khỏi tình yêu của mình. Giải pháp Chúa Giêsu đưa ra cho các môn đệ khi giận một ai đó hoặc làm một ai đó giận là hoà giải và tha thứ: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (5:23-24). Sự hoà giải và tha thứ là ‘tiền đề’ quan trong trong việc thờ phượng. Nói cách khác, để của lễ dâng lên được Thiên Chúa chấp nhận, chúng ta cần phải có một con tim biết tha thứ và cảm thông.

    Vấn đề thứ hai là ngoại tình. Như chúng ta biết, trong Cựu Ước, ngoại tình thường được sử dụng như hình ảnh ám chỉ sự bội tín với Thiên Chúa của dân Israel. Họ thường chạy theo tôn thờ những ngẫu tượng. Trong bài Tin Mừng, Thánh Mátthêu nói đến hành vi ngoại tình trong đời sống vợ chồng: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Bất cứ ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (5:27-28). Trong những lời này, Chúa Giêsu đi từ cấp độ của hành động đến cấp độ của ý hướng thèm muốn. Nói cách khác, khi một người quyết định phạm một hành vi xấu, dù chưa thực hiện nó mà chỉ mới có trong ý hướng, thì hành vi xấu đó đã hiện hữu rồi và chỉ thêm ‘trầm trọng’ bằng việc thực hiện nó. Chúa Giêsu đưa ra giải pháp là phải chặn ngay tại gốc, cắt tận gốc rễ chứ không chỉ cắt cái ngọn: “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục” (5:29-30). Những lời này được tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Máccô (9:43-47), nhưng không tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Luca, có thể là do dễ dàng bị hiểu lầm. Điều Thánh Mátthêu ám chỉ trong những lời trên là Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của Ngài sắp xếp lại vị trí của bậc thang giá trị. Sự hợp lý của những quyết định và chọn lựa luân lý rất quan trọng, đó là thà mất một phần của sự tự do mang tính luân lý của mình hơn là đánh mất toàn bộ sự tự do của mình.

    Thứ ba là vấn đề ly dị: “Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, bất cứ ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” (5:31-32). Trong vấn đề này, chúng ta thấy nền tảng của đời sống xã hội của con người liên quan đến, đó là đời sống gia đình [hôn nhân]. Đây là một vấn đề quan trọng. Triết gia Aristotle nói về ly dị như sau: “Ly dị đối với gia đình giống như nội chiến đối với một quốc gia.” Bởi vì vấn đề ly dị thường là một vấn đề mang lại nhiều đau thương và nước mắt, điều cần thiết phải nhớ rằng ý định sâu xa của Chúa Giêsu không phải là mang lại nỗi đau, nhưng là bắt đầu một ý tưởng thật sáng tỏ và cao sang của các mối tương quan con người, một viễn cảnh đẹp về hôn nhân như là một giao ước tình yêu cá vị giữa chồng với vợ, điều mà phản chiếu tương quan giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài. Đáng buồn thay, viễn cảnh đẹp này về hôn nhân không luôn luôn được lưu giữ trong con tim con người.

    Đề tài cuối cùng là thề hứa: “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa” (5:33). Những lời này cho thấy trong luật củ, trọn lời thề với Đức Chúa là điều quan trọng nhất. Điều này cho thấy tương quan với Thiên Chúa là nền tảng của tương quan với con người. Trước vấn đề thề hứa, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ “đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả.  Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có,’ ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (5:34-37). Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Ngài sống thật, không giả dối. Theo các học giả Kinh Thánh, trong vấn đề này, Chúa Giêsu lặp lại cho các môn đệ về Mười Điều Răn. Mười Điều Răn không nói gì về vấn đề thề hứa, như chỉ nói rằng, ‘ngươi không được kêu tên Thiên Chúa vô cớ,’ và ‘ngươi không được làm chứng gian.’ Điều này có nghĩa là chúng ta phải luôn nói sự thật trong mọi sự liên quan đến Thiên Chúa và anh chị em mình. Chúa Giêsu nối kết hai điều răn lại với nhau bằng việc nói rằng chúng ta không được dùng tên Đức Chúa mà thề hoặc thay thế bất kỳ điều gì cho danh Ngài. Chỉ đơn giản là nói sự thật. Là những người theo Chúa Giêsu, chúng ta phải đem lời Ngài ra thực hiện, đó là chỉ nói sự thật, không nói dối.

    Lm. Anthony, SDB.

    …………………………..

    Suy Niệm 3: SỐNG THEO TINH THẦN MỚI

    A. DẪN NHẬP

    Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu tuyên bố với đám đông dân chúng :”Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Maisen hoặc giáo huấn của các tiên tri. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn… Dù một chấm một phết trong sách Luật cũng không bỏ đi được(Mt 5,17-18).  Chỗ khác Ngài lại nói như người có quyền hơn cả Maisen :”Anh em đã nghe dạy người xưa rằng… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”(Mt 5,21-22). Phải chăng hai lời tuyên bố này có một sự mâu thuẫn ? Và làm thế nào để giải quyết điều xem ra mâu thuẫn đó ?

    Thực ra, Đức Giêsu không nhằm phá bỏ luật Maisen và giáo huấn của các tiên tri, Ngài chỉ kiện toàn và làm cho nó mới mẻ hơn thôi ! “Kiện toàn” vì nó đòi hỏi cao hơn, hoàn hảo hơn, nhân bản hơn, đạo đức hơn, nghĩa là nó thấm nhuần tinh thần bác ái, yêu thương. “Mới” vì từ nay tuân giữ luật lệ, không chỉ làm theo hình thức bề ngoài, mà phải tỏ thiện chí bên trong với một ý hướng ngay lành tuyệt đối, một tình mến chân thành.

    Theo lời Chúa dạy, từ nay chúng ta phải sống công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, nghĩa là giữ đạo, tuân giữ luật không vì luật mà vì lòng mến Chúa. Chúng ta không giữ luật như người tôi tớ phải làm theo ý chủ, nhưng sống như những người con thảo muốn làm theo ý Cha mình. Đó là bản chất của luật tình thương.


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    + Bài đọc 1 : Hc 15, 15-20

    Bài đọc 1 trích trong sách Đức Huấn Ca cùa Ben Sira. Đức Huấn Ca là một sưu tập  những ý tưởng khôn ngoan của các bậc tiền bối trong thiên hạ cách chung  và trong dân Do thái cách riêng.

    Theo tác giả, con người được tự do chấp nhận hay khước từ các điều răn của Thiên Chúa, nhưng ai nấy phải chịu trách nhiệm về quyền tự do của mình.

    Đứng trước hai con đường, con người có quyền tự do lựa chọn : điều tốt hay điều xấu, sự sống hay sự chết.  Chúa để cho con người được tự do là có ý cho nó  biết dùng tự do cách ý thức và trưởng thành, nhờ đó mà được ân thưởng hay bị trừng phạt.

    + Bài đọc 2 : 1Cr 2,6-10 

    Trong Hội thánh tại Corintô, có một số người tự phụ kể mình là người khôn ngoan, nhưng thánh Phaolô cho biết  sự khôn ngoan đó chỉ là ảo mộng của con người. Chỉ có một sự khôn ngoan đích thực , đó là sự khôn ngoan của Tin Mừng.

    Và ngài giải thích về hai sự khôn ngoan đó : khôn ngoan của thế gian chỉ dẫn tới hư vong; còn khôn ngoan của Thiên Chúa , tuy có bị thế gian cho là ngu dại (khôn ngoan Thập giá) nhưng đưa đến vinh quang.

    + Bài Tin Mừng : Mt 5,17-37

    Đức Kitô loan báo rằng Ngài đến không phải để bãi bỏ lề luật cũ mà thay vào bằng lề luật mới,  nhưng đến để kiện toàn luật cũ bằng cách giảm bớt các trói buộc quá nặng nề và nhất là nhấn mạnh trên các lý do giữ luật dựa trên tình yêu tinh ròng.

    Thực ra, luật mới ở đây là luật cũ  đã được làm cho nên hoàn hảo. Sự hoàn hảo mà Đức Kitô đòi hỏi nơi các môn đệ làm thay đổi hẳn  ý nghĩa của lề luật, dù việc thi hành bên ngoài vẫn như cũ.

    Nói khác đi, người ta giữ luật không phải dựa vào hình thức bên ngoài mà giữ luật, mà giữ luật vì lòng yêu mến Chúa.  Người ta không vâng lệnh Chúa như kẻ làm công tuân theo ý chủ, nhưng như người con thảo hiền vì yêu quí  mà hết lòng làm theo lệnh của cha mình.


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

                                                    Sống theo tinh thần mới 

    Trước đám đông dân chúng, Đức Giêsu tuyên bố :”Anh em đừng tưởng rằng Thầy đến để bãi bỏ luật Maisen hoặc giáo huấn của các tiên tri. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn… Một chấm một phết trong sách luật cũng không thể bỏ đi được” (Mt  5,17-18).
    Câu tuyên bố này làm cho người ta thắc mắc bởi vì câu nói và việc làm của Ngài xem ra trái nghịch nhau.  Phải chăng Đức Giêsu là một người cấp tiến, đến để hủy bỏ hết các sách Luật và các tiên tri để thay thế vào một luật mới; hay Ngài là một người bảo thủ, giữ nguyên vẹn luật cũ, không thay đổi một chút nào, dù rất nhỏ mọn ?


    I. LỀ LUẬT TRONG ĐẠO CŨ
     

    1. Các sách Lề Luật cũ

    Dân Do thái giữ luật ông Maisen, luật mà Thiên Chúa đã truyền cho dân chúng qua ông Maisen.  Các luật ấy được gọi chung là Lề Luật hay Pháp Luật.

    Người ta có thể hiểu chữ Lề Luật ấy theo 4 ý nghĩa khác nhau :

    a) Họ dùng để chỉ Mười Điều Răn.

    b) Chỉ 5 sách đầu của Kinh Thánh : Ngũ Kinh Maisen : 5 cuốn sách đầu của Kinh thánh được người Do thái gọi là Luật Pháp ưu tú, tuyệt hảo và là tầm quan trọng nhất của Thánh kinh.

    c) Họ cũng dùng Luật Pháp và lời tiên tri để chỉ cả Kinh Thánh, là phần Cựu Ước của chúng ta đang có.

    d) Họ dùng từ ngữ đó để chỉ Luật Pháp truyền khẩu hoặc Luật Pháp của các luật sĩ.

    Trong thời Đức Giêsu, nghĩa thứ bốn thông dụng nhất.  Cả Đức Giêsu và Phaolô đều lên án Luật Pháp của các thầy luật sĩ.


    2. Luật Pháp của các luật sĩ

    Trong Cựu Ước chúng ta thấy rất ít luật lệ, chỉ có các nguyên tắc bao quát, mỗi người phải biết  và giải thích dưới sự soi dẫn của Thánh Thần để áp dụng cho những hoàn cảnh cá nhân. Chúng ta không thấy luật lệ trong Mười Điều Răn. Vì mỗi điều răn hàm chứa một nguyên tắc lớn, từ đó mỗi người phải tìm ra luật lệ riêng cho đời sống.

    Đối với những người Do thái về sau những nguyên tắc lớn này dường như không đủ. Họ xem luật pháp là thiêng liêng  trong đó Đức Giêsu phán những lời chung quyết,  bởi vậy mọi sự phải gồm tóm trong đó.

    Nếu một sự việc không được nói tỏ tường trong Luập Pháp thì cũng phải hàm ngụ ở trong đó. Bởi vậy, họ tranh luận rằng Luật Pháp có thể suy diễn ra luật lệ cho mỗi người trong mỗi hoàn cảnh của cuộc đời. Do đó, nảy sinh ra hạng người gọi là “rabbi” : luật sĩ, suốt đời chuyên suy luận những nguyên tắc lớn lao của Pháp Luật để lập ra hàng ngàn, hàng vạn luật lệ khác.

    Chúng ta hãy đưa ra một ví dụ :

    Luật pháp dạy rằng hãy giữ ngày sabbat để làm nên ngày thánh và trong ngày đó không được làm công việc gì.  Đó là nguyên tắc lớn. Những người duy luật Do thái rất say mê định nghĩa, nên họ hỏi rằng : công việc là gì ? Tất cả mọi thứ sự việc  đều có thể định nghĩa là công việc. Thí dụ : mang một gánh nặng trong ngày sabbat là làm việc, nhưng kế đó phải định nghĩa gánh nặng.  Vậy luật pháp của các thầy luật sĩ qui định rằng : gánh nặng là lượng thức ăn bằng sức nặng của một trái vả khô, rượu đủ để pha một ly, sữa đủ cho một ngụm, dầu đủ để xức cho một chi thể nhỏ, giấy đủ để viết một báo cáo của thương chánh, mực đủ để viết hai chữ trong bảng mẫu tự, sậy đủ để làm cây viết… và cứ như thế không bao giờ hết.

    Chúng ta nên lưu ý rằng trải qua nhiều thế hệ, luật lệ của các luật sĩ không được chép ra, nó chỉ là luật truyền khẩu được truyền lại trong ký ức của nhiều thế hệ giới luật sĩ.  Đối với người Do thái chính thống trong thời Đức Giêsu  thì phục vụ Thiên Chúa chính là giữ tất cả hàng ngàn các luật lệ này, họ coi đó là những vấn đề sống chết với số phận đời đời.

    II. ĐỨC GIÊSU KIỆN TOÀN LUẬT CŨ 

    1. Đức Giêsu không phá bỏ luật cũ 

    Đốí với luật truyền khẩu tức là luật của các luật sĩ đặt ra, rõ ràng là Đức Giêsu không có ý nói  không một điểm nào trong thứ luật này phải qua đi, vì Ngài đã nhiều lần phá bỏ, nhiều lần lên án chúng, và chắc chắn đó không phải là  luật pháp chỉ bằng từ ngữ “Luật Pháp” vì chính Ngài và Phaolô đều lên án.

    Đức Giêsu đã phán :”Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn” (Mt 5,17). Ngài kiện toàn bằng cách  thực hiện các lời tiên tri đã báo trước (Mt 3,2) và làm cho tinh thần luật của Cựu Ước được hoàn hảo hơn, vì chữ viết thì giết chết, tinh thần mới giải thoát.

    Ngài còn nói thêm :”Một chấm một phết trong Sách Luật cũng không thể bỏ đi được”(Mt 5,15).  Trong văn tự luật nói chung và nói riêng tiếng Do thái, thêm bớt một dấu chấm, dấu phết sẽ làm cho ý nghĩa của luật thành khác hẳn. Ví dụ :

                                          “Nàng có ba người anh đi bộ
    Đội những em nàng…”

    Cũng thế, nguyên văn là một chữ, một vạch nhỏ, tức là chữ và dấu nhỏ nhất trong bộ mẫu tự Hy lạp.  Do đó cho dù một chi tiết nhỏ nhất trong luật cũng được tôn trọng. Không phải là tôn trọng luật tỉ mỉ do các luật sĩ và biệt phái thêm vào, nhưng là tôn trong luật Maisen sau khi luật này  đã được kiện toàn và đã đước Đức Giêsu phá bỏ những gì lỗi thời và được kiện toàn  nhờ có động lực tinh thần bác ái (Mt 9,17).

    1. Đức Giêsu kiện toàn luật cũ 

    Trước hết, Đức Giêsu đưa ra nguyên tắc tổng quát là Ngài không đến  để phá hủy lời dạy của Maisen và các tiên tri mà là để hoàn tất nó.  Nói cách khác, giáo huấn của Đức Giêsu không phá hủy giáo huấn Maisen và các tiên tri giống như tuổi trưởng thành không tiêu diệt thời thơ ấu. Đúng hơn cái này bổ túc cho cái kia.

    Sau  khi xác định rõ nguyên tắc tổng quát này, Đức Giêsu tiếp tục đưa ra những lời dạy rõ ràng. Chúng ta thử xem một vài ví dụ :

    Maisen dạy rằng phạm tội ngoại tình là một điều sai quấy, giờ đây Đức Giêsu nói thêm là chỉ cần nghĩ đến và đồng ý đến tư tưởng ngoại tình là đã sai quấy rồi. Giáo huấn của Đức Giêsu nhìn nhận một sự kiện đơn giản thuộc lãnh vực con người : Tư tưởng ngoại tình là “mầm giống” để “cây non” ngoại tình mọc lên. Chận đứng cái này tức là chận đứng cái kia.

    Luật cũ dạy :”Chớ giết người”, còn Đức Giêsu dạy :”Ai giận anh em mình” thì như đã phạm tội giết người. Vì thù oán anh em  là đã tiêu diệt họ ngay trong lòng mình.  Tuy chưa giết họ thực sự, nhưng đã giết chết họ trong trái tim mình rồi. Vì thế, thánh Gioan viết :”Phàm ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân”(1Ga 3,15).

    Luật cũ cho phép thề, nhưng “chớ bội thề”; còn Đức Giêsu bảo :”Đừng thề chi cả”. Lời nói tự nó phải có giá trị. Vì thế, “hễ có thì phải nói có, hễ không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,37).

    Như vậy, Đức Giêsu đã kiện toàn luật và làm cho nó trở nên mới mẻ hơn :

    – “Kiện toàn”  vì nó đòi hỏi cao hơn, hoàn hảo hơn, nhân bản hơn và đạo đức hơn.  Nói khác đi, vì nó thấm nhuần tinh thần bác ái, yêu thương.

    – “Mới” vì từ nay tuân giữ luật lệ, không chỉ làm theo hình thức bên ngoài, mà phải tỏ thiện chí từ bên trong với một ý hướng ngay lành tuyệt đối, một tình mến chân thành.

    Muốn kiện toàn lề luật, muốn con người sống hoàn hảo, phải thanh tẩy nội tâm con người. Cái “tâm chân chính” sẽ hướng dẫn con người sống chân chính. Nguyễn Du, một thi sĩ vào bậc nhất Việt nam, đã thấy rõ điều đó :

                                                     Thiện căn ở tại lòng ta,
                                              Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

    Khổng Tử đã huấn luyện các đồ đệ trở thành người quân tử đã lấy “chính tâm thành ý” làm nền tảng, vì “Tâm quảng, thể bàn”, tâm quảng đại cho thân xác vững mạnh như bàn thạch (Đại học, chương 4).

    Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết mà Thiên Chúa muốn là lề luật, không phải để ngăn cấm, răn đe những tiêu cực, những điều xấu  như luật loài người; luật Thiên Chúa chính là  thực thi những điều tích cực, nhưng điều tốt, tạo niềm tin vào Thiên Chúa tốt lành vô cùng để dẫn đưa con người trở về với Thiên Chúa. Đó là mục đích kiện toàn giới luật : Đấng ban bố giới luật thiện hảo.

    III. THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA

    1. Phải sống công chính đích thực

    Đức Giêsu phán : “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 5,20).   Chúa đòi chúng ta phải ăn ở công chính hơn nữa. Sự công chính mà Đức Giêsu nói đây không phải do tuân giữ một số luật theo hình thức (mà Ngài từng đả kích) như người biệt phái – Nhưng là sống hiệp thông với Thiên Chúa tức là thực thi ý Chúa.

    Sự “công chính” là một từ ngữ Kinh Thánh rất phong phú mà Matthêu ưa thích một cách rất đặc biệt.  Từ ngữ “công chính” này không chỉ có nghĩa hạn hẹp mà ngôn ngữ  hiện đại gán cho nó : sự công bằng xã hội điều hành những tương quan giữa con người với nhau. Sự “công chính” theo nghĩa Kinh Thánh chủ yếu là “theo đúng điều mà Thiên Chúa muốn chúng ta trở thành”. 

    Một người công chính là một người hoàn toàn  đồng ý cộng sinh, liên minh, hòa hợp với Thiên Chúa, Đấng suy nghĩ và thiết lập vũ trụ và điều hành nó với sự thông minh kỳ diệu.  Người công chính, bởi “sự tương ứng” của đời sống người ấy với ý muốn của Thiên Chúa, sẽ tham dự vào Thiên Chúa và đi đến hạnh phúc, nghĩa là đến “mục đích vì đó mà người ấy được sinh ra”.

    Vả lại, Đức Giêsu đề nghị một sự “công chính mới”, một sự hoàn thiện con người mới. Đức Giêsu nói phải vượt qua sự công chính… vậy sự công chính của ai ? Thưa :

     – Các “luật sĩ”, những nhà thần học của thời đại ấy, những nhà chú giải Kinh Thánh, những vị thấy có chức vị, những giáo trưởng dạy đạo một cách chính thức.

    – Các người “biệt phái”, những giáo dân dấn thân của thời đại ấy, liên kết với nhau trong một “phong trào” của những người nhiệt thành, cố gắng sống mọi yêu sách của đức tin thuần túy nhất không để thanh danh bị tổn hại (Noel Quesson, Lời Chúa cho mỗi Chúa nhật, năm A, tr 251-252).

    Vì thế, từ nay sự “công chính mới” hệ tại không phải ở chỗ khép mình một cách bề ngoài vào các tập tục, nhưng là “khuôn mình” theo thánh ý Cha như Đức Giêsu. Sống trong cộng đoàn với tình yêu và tình yêu của con cái, có thế, mới “công chính”hơn các luật sĩ và biệt phái được.

    1. Giữ luật với tình con thảo 

    Suốt 30 năm sống tại Nazareth, Đức Giêsu đã thi hành Luật pháp như mọi người Do thái. Khi đi rao giảng Tin mừng, Ngài không chỉ trích Pháp Luật mà Ngài đang tuân giữ. Nhưng cách giải thích và áp dụng luật của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời ấy khiến Ngài phải đặt vấn đề.

    Đối với họ, vấn đề quan trọng là giữ luật theo mặt chữ. Một khi làm trọn luật theo mặt chữ, bạn được đánh giá là người tốt.  Nhưng đối với Đức Kitô tinh thần của luật mới là quan trọng. Điếu quan trọng không phải là  tuân giữ bao nhiêu điều răn nhưng là chúng ta tuân giữ chúng trong tinh thần nào.

    Ngài cũng thấy rằng  sự vâng lời thường có nguồn gốc là sự sợ hãi. Ngài muốn vâng lời cắm rễ trong tình yêu. Toàn bộ mối quan hệ của Ngài với Cha trên trời, có nền tảng là tình yêu. Khi bạn yêu một người nào, bạn tránh làm điều gì tổn hại đến người ấy. Nơi nào có tình yêu nơi ấy không cần luật.

    Nhưng điều có ý nghĩa nhất mà Đức Giêsu đã làm là điều này : Ngài đem đến một luật mới chính xác hơn, đó là luật tình yêu. Không mâu thuẫn và phá hủy luật cũ, luật mới vượt xa hơn luật cũ và đưa luật cũ đến chỗ hoàn thiện.  Đức Giêsu nói mọi luật của Thiên Chúa có thể giản lược vào hai điều : mến Chúa và yêu người. Quả thật, chỉ có một luật mà thôi, đó là luật của tình yêu (McCarthy).

                                          Truyện : Chiếc nhẫn kỳ diệu

    Truyện cổ Đông phương kể rằng : ngày xưa, có vị đạo sĩ dâng cho vua một chiếc nhẫn kỳ diệu và vô giá. Nó vô giá vì được làm bằng thứ kim loại quí hiếm và gắn nhiều kim cương lóng lánh. Nó kỳ diệu ở chỗ : nếu người đeo nó làm điều lành, thì nó rất vừa vặn và chiếu sáng. Nhưng nếu người đó làm điều ác, thì nó sẽ biến thành một cái máy xiết rất mạnh, ngón tay rất đau đớn.

    Mỗi người chúng ta cũng có một chiếc nhẫn là lề luật của Chúa. Chớ gì khi chúng ta làm điều gì sai quấy, chiếc nhẫn lương tâm chúng ta phải khiển trách, và chúng ta kịp thời biết quay về với Chúa để sống trong tình con thảo.

    Qua các bài đọc Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy rút ra được bài học để áp dụng vào đời sống cụ thể.  Người luật sĩ và biệt phái thường bị Đức Giêsu quở trách, gọi họ là giả hình, vì họ giữ luật câu nệ vào hình thức bên ngoài, mà lòng họ xa Chúa. Vậy nếu luật sĩ và biệt phái trong Cựu ước đã làm sai lạc ý nghĩa của đạo giáo, bằng cách giữ luật theo hình thức bề ngoài, thì người tín hữu ngày nay cũng có thể tự lừa dối mình bằng cách giữ những điều kiện tối thiểu của đạo giáo.

    Sau Công đồng Vatican II, những luật lệ của Giáo hội được đơn giản hóa. Điều đó khiến nhiều người lầm tưởng rằng việc giữ đạo đã trở nên lỏng lẻo. Thực sự những thay đổi sau công đồng Vatican II là nhằm khuyến khích người công giáo tự nguyện sống  đạo một cách chân tình, vì lòng yêu Chúa chứ không phải vì những luật lệ ràng buộc.

    Lm. Giuse Đinh lập Liễm, Gp. Đà Lạt

                                                                                

    …………………………

    Suy Niệm 4: Tống cựu nghinh tân 

    “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Ăn trông nồi ngồi trông hướng” – Trẻ em ngay từ thuở còn nhỏ trước khi vô lớp mẫu giáo đã được dạy những phép tắc cơ bản để học làm người. Thiên Chúa nhìn thấy tất cả, bởi vậy không nên chế nhạo người tàn tật, khinh khi người nghèo, không nên cãi lại người lớn, … Cách chào hỏi, cách cư xử với người trên, cách ăn uống, cách đi đứng, … Tất cả những điều này đều được dạy dỗ rất sớm. Chẳng lạ gì cho đến nay vẫn có người hỏi: Thưa cha, con không hề trộm cắp, ngoại tình, con siêng năng đọc kinh cầu nguyện, đi lễ ngày chúa nhật, làm việc bác ái, con cũng là một người Kitô hữu ngoan đạo, phải không cha? Nhìn những thành tích bên ngoài có lẽ không ai dám mở miệng chê bai hay coi thường. Nhưng không ai ngờ những người tự cho mình là thanh cao gia giáo như nhóm biệt phái và luật sĩ lại thường bị Đức Giêsu khiển trách nặng lời. Như vậy chúng ta không thể dựa vào những dáng vẻ bên ngoài để đánh giá bản chất của một người. Không thể “trông mặt mà bắt hình dong”, “con lợn có béo thì lòng mới ngon”! Mặc dầu vậy hào nhoáng bên ngoài vẫn được coi trọng, bởi vì tục ngữ có câu: “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”!

    Đức Giêsu là người Do thái cho nên Ngài cũng được giáo dục và sống theo lề luật Môisen và học hỏi Kinh thánh kỹ lưỡng. Nhóm biệt phái và luật sĩ là những người cắt nghĩa, duy trì và bảo vệ lề luật. Ai giữ luật, kẻ đó là người công chính. Đức Giêsu không nhìn một người qua những văn tự của lề luật, Ngài nhìn toàn thể con người, nhất là trái tim. Cho nên những ai lắng nghe Ngài sẽ được ban tặng một giới răn mới, một trật tự mới dành cho cuộc sống. Chúng ta thường nghe câu “tống cựu nghinh tân” trong dịp tết hay khi trong giáo xứ có cha xứ mới. Đức Giêsu không đến để bãi bỏ luật cũ và ban hành luật mới nhưng Ngài đến để kiện toàn. Ngài cũng không muốn chúng ta sống như những người nô lệ lề luật và cũng không muốn chúng ta ra sức giữ gìn những khuôn sáo đã trở nên trống rỗng với thời gian. Chúng ta có thể giữ luật với tất cả trái tim, làm cho lề luật trở nên sống động qua những tình huống cụ thể của cuộc sống. Khuôn khổ của lề luật chỉ là phương tiện giúp chúng ta sống một đời tự do. Đức Giêsu đã giữ luật với tất cả con người của mình và sống một cách sung mãn. Con người giết người không phải chỉ bằng gươm đao súng đạn mà là còn qua lời nói và cử chỉ. Khi chúng ta sống với tất cả tấm lòng và để cho những sinh hoạt của cuộc sống của mình xảy ra trong khuôn khổ của lề luật chúng ta sẽ trở thành người có tự do. Bởi vậy không phải những mẫu tự của lề luật mà là thái độ sống của chúng ta đóng một vai trò quan trọng và là thước đo đánh giá tất cả.

    Thánh  Augustinô  nói: “Hãy yêu đi và làm những gì bạn muốn”. Đức Giêsu đã đổ đầy lề luật bằng tình yêu. Ngài cũng sống từ tâm điểm của tình yêu. Chúng ta được mời gọi tẩy rửa những oán thù và bất công, những xúc phạm và tranh chấp. Chúng ta được mời gọi làm hoà cùng Thiên Chúa, với tha nhân và chính mình trước khi đến dự bàn tiệc thánh. Khi kết lễ chúng ta được sai đi để sống bác ái yêu thương. Ai sống từ tâm điểm của tình yêu, ai để mọi hành vi của mình từ lời nói đến việc làm phát xuất từ tình yêu, kẻ đó sẽ trở nên bao dung khi đứng trước những yếu đuối và lỗi lầm của kẻ khác. Giáo hội ngày nay đã đánh mất quá nhiều vẻ oai nghiêm và tính chất đáng tin cậy của chính mình vì những khuôn sáo bên ngoài. Hôm nay Đức Giêsu mời gọi chúng ta quay đầu trở về với tâm điểm của cuộc sống đó chính là tình yêu. Hãy sống trong tình yêu và làm chứng cho tình yêu. Con người không bao giờ mong chờ những lời kết tội nhưng lại khao khát những lời mang lại ủi an và có sức xoa dịu vết thương lòng. Theo gương Đức Giêsu chúng ta sống từ tâm điểm của cuộc sống và đổ đầy tất cả bằng tình yêu.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức.

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com