BÀI ĐỌC I: Is 9, 1-6
Dân tộc bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết. Chúa đã làm cho dân tộc nên vĩ đại, há chẳng làm vĩ đại niềm vui? Họ sẽ vui mừng trước nhan Chúa, như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt lúa, như những người thắng trận hân hoan vì chiến lợi phẩm, khi đem của chiếm được về phân chia. Vì cái ách nặng nề trên người nó, cái gông nằm trên vai nó, cái vương trượng quyền của kẻ áp bức. Chúa sẽ nghiền nát ra, như trong ngày chiến thắng Mađian. [Bởi lẽ mọi chiếc giày đi lộp cộp của kẻ chiến thắng, mọi chiếc áo nhuộm thắm máu đào sẽ bị đốt đi và trở nên mồi nuôi lửa.]
Bởi lẽ một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, và một người con đã được ban tặng chúng ta. Người đã gánh nhận vương quyền trên vai, và thiên hạ sẽ gọi tên Người là “Cố Vấn Kỳ Diệu, Thiên Chúa Huy Hoàng, Người Cha Muôn Thuở, Ông Vua Thái Bình”. Người sẽ mở rộng vương quyền, và cảnh thái bình sẽ vô tận; Người sẽ ngự trên ngai vàng của Đavít, và trong vương quốc Người, để củng cố và tăng cường, trong sự công minh chính trực, ngay tự bây giờ và cho đến muôn đời. Lòng ghen yêu của Chúa thiên binh sẽ thực thi điều đó.
BÀI ĐỌC II: Tt 2, 11-14
Ân sủng của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người, dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này, khi trông đợi niềm hy vọng hạnh phúc và cuộc xuất hiện sự vinh quang của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Đấng Cứu Độ chúng ta. Người đã hiến thân cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác, luyện sạch chúng ta thành một dân tộc xứng đáng của Người, một dân tộc nhiệt tâm làm việc thiện.
PHÚC ÂM: Lc 2, 1-14
Ngày ấy, có lệnh của hoàng đế Cêsarê Augustô ban ra, truyền cho khắp nơi phải làm sổ kiểm tra. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, thực hiện thời Quirinô làm thủ hiến xứ Syria. Mọi người đều lên đường trở về quê quán mình. Giuse cũng rời thị trấn Nadarét, trong xứ Galilêa, trở về quê quán của Đavít, gọi là Bêlem, vì Giuse thuộc hoàng gia và là tôn thất dòng Đavít, để khai kiểm tra cùng với Maria, bạn người, đang có thai.
Sự việc xảy ra trong lúc ông bà đang ở đó, là Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh con trai đầu lòng. Bà bọc con trẻ trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong hàng quán.
Bấy giờ trong miền đó có những mục tử đang ở ngoài đồng và thức đêm để canh giữ đoàn vật mình. Bỗng có thiên thần Chúa hiện ra đứng gần bên họ, và ánh quang của Thiên Chúa bao toả chung quanh họ, khiến họ hết sức kinh sợ. Nhưng thiên thần Chúa đã bảo họ rằng: “Các ngươi đừng sợ, đây ta mang đến cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho cả toàn dân: Hôm nay Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế, đã giáng sinh cho các ngươi trong thành của Đavít. Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người: Các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ”. Và bỗng chốc, cùng với các thiên thần, có một số đông thuộc đạo binh thiên quốc đồng thanh hát khen Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
Suy Niệm 1: RẤT THƯỜNG NHƯNG RẤT PHI THƯỜNG
Và đêm nay, với em bé mới sinh, bọc tã nằm trong máng cỏ này, là thời điểm vàng cho lời Kinh Vinh Danh của chúng ta: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời; và bình an dưới thế cho người thiện tâm”…!
Mầu nhiệm đêm nay là mầu nhiệm ánh sáng của Thiên Chúa: Ánh sáng mà đưa dân Chúa ra khỏi bóng tối tử thần. Trong bài đọc 1, Ngôn Sứ Isaia nói về ánh sáng huy hoàng mà Thiên Chúa ban cho dân Ngài trong ngày ‘một trẻ thơ được sinh ra.” Trong ngày đó, dân Chúa sẽ được hưởng những điều sau: (1) không còn bước đi trong bóng đêm tội lỗi; (2) được ban cho chan chứa niềm vui; (3) được giải thoát khỏi ách nô lệ [thói hư tật xấu]; (4) được hưởng sự bình an. Chúng ta đã được hưởng bốn điều này chưa? Nếu chưa, chúng ta hãy xin Thiên Chúa ban cho chúng ta để chúng ta có được sự bình an thật để đón mừng con Chúa: “Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình. Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời. Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó” (Is 9:5-6). Đêm hôm nay là đêm Thiên Chúa hoàn thành lời hứa của Ngài với con cháu Adam. Ngài là Thiên Chúa trung thành. Chúng ta cũng được mời gọi để sống trung thành với Thiên Chúa và với nhau.
Về phần mình, Thánh Phaolô nhắc nhở Titô về ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho con người. Theo thánh nhân, “ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” (Tt 2:12). Những người sống trong ân sủng là những người sống theo sứ điệp sám hối, đó là thay đổi lối sống cũ của mình để hoàn toàn sống cho Thiên Chúa. Họ là những người sống trong niềm hy vọng của ngày hồng phúc, “ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2:13). Bên cạnh đó, Thánh Phaolô cũng chỉ ra mầu nhiệm hôm nay là mầu nhiệm tự hiến của Chúa Giêsu khi sinh ra trong xác phàm con người: “Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện” (Tt 2:14). Đêm nay, chúng ta được Chúa Giêsu biến thành dân riêng của Ngài, chúng ta được mời gọi đến một đời sống hăng say làm việc thiện.
Khung cảnh ra đời của Chúa Giêsu được thánh Luca đặt trong một khung cảnh lịch sử cụ thể của nhân loại, đó là “thời ấy, hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri” (Lc 2:1-2). Những lời này cho thấy lịch sử con người trở thành lịch sử cứu độ khi Chúa Giêsu bước vào trong thời gian. Chi tiết này nhắc nhở lịch sử cuộc đời của mình. Khi chúng ta để Chúa Giêsu bước vào cuộc đời của mình, thì lịch sử đời mình sẽ trở thành những trang sử đầy yêu thương của Thiên Chúa. Liệu chúng ta có để Chúa Giêsu sinh ra trong cuộc đời của chúng ta ngay giây phút này không?
Chi tiết thứ hai chúng ta quan tâm là bối cảnh gia đình mà trong đó Chúa Giêsu sẽ được sinh ra: “Ai nấy đều về thành của mình mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giuse cũng từ thành Nadarét, miền Galilê, lên thành vua Đavít gọi là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình và dòng tộc vua Đavít. Ông lên đó khai tên cùng với bà Maria là người đã thành hôn với ông, lúc ấy bà đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2:3-7). Chi tiết này tiếp tục tư tưởng mà chúng ta vừa trình bày ở trên, đó là việc Chúa Giêsu sinh ra trong lịch sử con người. Tuy nhiên, Ngài không sinh ra trong một ‘nơi chung chung,’ nhưng trong một gia đình, một dòng tộc. Hình ảnh của hai người trực tiếp liên quan đến sự ra đời được nêu trong những lời trên là Thánh Giuse và Mẹ Maria. Chúng ta thấy, điều Thánh Giuse mang lại cho Chúa Giêsu là ‘dòng tộc Đavít,’ còn Mẹ Maria mang lại cho Chúa Giêsu là ‘thân xác’ để hiện diện trong ‘lịch sử’ nhân loại. Còn chúng ta, chúng ta sẽ có điều gì để dâng lên cho Chúa Giêsu hôm nay không?
Những người đầu tiên được đón nhận tin vui của giáng sinh là “những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật” (Lc 2:8): “Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ sợ hãi kinh hoàng. Nhưng sứ thần bảo họ: ‘Anh em đừng sợ. Này tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng sẽ là niềm vui cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa’” (Lc 2:8-11). Tại sao những người chăn chiên là những người đầu tiên được đón nhận tin vui Giáng Sinh? Bản văn cho chúng ta thấy rằng họ là những người “thức đêm” hay đúng hơn là có thái độ “canh thức đợi chủ về.” Tuy nhiên, tin vui mà những người chăn chiên nhận được không chỉ dành riêng cho họ mà dành cho ‘toàn dân.’ Chi tiết này mời gọi chúng ta chia sẻ niềm vui có Chúa cho mọi người. Những người có Chúa trong cuộc đời của mình là những người không tìm kiếm niềm vui cho riêng mình, nhưng tìm kiếm và loan báo niềm vui cho người khác. Họ là những người biến cuộc đời của mình thành Tin Mừng.
Dấu hiệu để nhận ra Đấng Cứu Thế thật đơn sơ: “Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2:12). Chi tiết này nhắc chúng ta về sự hiện diện đầy khiêm nhường của Thiên Chúa [Chúa Giêsu] trong thế giới và trong cuộc đời chúng ta. Khác với cái nhìn của người đời, Thiên Chúa không đến từ những nơi cao sang quyền quý. Ngài được tìm thấy ở những nơi bần cùng, nghèo hèn và trong những người không ‘có nơi nương thân.’ Ngài hiện diện cách kín ẩn trong một ‘trẻ sơ sinh,” thật yếu đuối, thật đơn sơ, thật vô tội. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng đi tìm Chúa trong những nơi cao sang quyền quý, trong những con người thông minh và quyền lực. Nhưng Chúa không hiện diện ở đó. Chúng ta chỉ tìm ra Chúa khi chúng ta sống tinh thần của trẻ thơ, nhìn mọi sự với ánh mắt kinh ngạc và đầy yêu thương, như ‘trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.”
Sự ra đời của Chúa Giêsu mang lại hai hệ quả: Vinh danh Thiên Chúa và bình an cho con người: “Bỗng có đạo binh thiên quốc đông đảo hợp với sứ thần cất tiếng ca tụng Thiên Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương’” (Lc 2:13-14). Những lời này, một cách nào đó trình bày cho chúng ta biết sứ vụ của Chúa Giêsu trong thế gian này, đó là làm vinh danh Thiên Chúa và cứu rỗi con người. Đây cũng chính là sứ điệp của mùa Giáng Sinh: Mỗi người chúng ta hôm nay cũng được sinh ra với Chúa Giêsu, chúng ta phải biến cuộc đời của mình thành lời ca tôn vinh Thiên Chúa và nguồn bình an cho những người chúng ta sẽ được sai đến để phục vụ.
Lm. Anthony, SDB.
………………………
Suy Niệm 3: THIÊN CHÚA ĐÃ LÀM NGƯỜI
A. DẪN NHẬP
Sau bốn tuần lễ Mùa Vọng chờ đợi, hôm nay chúng ta long trọng mừng lễ Giáng Sinh trong niềm hân hoan phấn khởi. Lễ Giáng Sinh trở nên rất phổ biến với cái tên là Noel, vì hầu như mọi người : tín hữu hay không, bằng cách này hay cách khác, đều có thể mừng lễ Noel. Nhưng có một đều quan trọng cần rất được chú ý , đó là không phải bất cứ ai mừng lễ Noel đều đạt được mục đích chân chính của nó là gặp được Đức Kitô,” Đấng Cứu Độ đã giáng sinh cho các ngươi”(Lc 2,11).
Cách đây 2000 năm, Ngôi Hai Thiên Chúa đã giáng sinh trong hang bò lừa tại Belem. Đây là một biến cố lịch sử quan trọng có liên quan đến cả thế giới. Thiên Chúa đã nhập thể và nhập thế để ở cùng chúng ta. Ngài là Đấng Emmanuel bao đời mong đợi. Hôm nay là ngày Trời Đất gặp nhau : Thiên Chúa làm người để con người được làm Thiên Chúa. Nếu hỏi tại sao Thiên Chúa đã hành động như vậy, thì không còn câu trả lời nào đúng hơn là vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Ngài đã yêu chúng ta trước. Vậy chúng ta phải đáp trả lại tình yêu của Chúa đối với chúng ta bằng cách chúng ta phải yêu Chúa và tha nhân, vì chỉ có tình yêu mới đáp trả được tình yêu. Chúng ta tỏ lòng yêu Chúa bằng cách tuân theo thánh ý Ngài và chúng ta yêu tha nhân bằng những việc làm cụ thể bằng cách chia sẻ tinh thần và vật chất, và biết thông cảm với nhau :”Vui với người, khóc cùng kẻ khóc”.
Tâm tình ngày lễ Giáng Sinh của chúng ta phải có tính cách tích cực, bởi vì nhìn lại 2000 năm từ ngày Chúa Giáng sinh, đã có biết bao nhiêu người mừng lễ Noel, nhưng họ đã không một lần gặp được Chúa Hài đồng, dường như họ coi lễ Noel là dịp để vui chơi, giải trí, được dịp chưng diện, mà không biết phóng con mắt tâm hồn qua không gian và thời gian về hang Belem mà chiêm ngắm Chúa Hài Nhi, để hòa nhịp với các nhân vật bé mọn nghèo hèn đang thờ lạy Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh làm người. Còn đối với chúng ta, giờ đây hãy sốt sắng hiệp dâng Thánh lễ để cảm tạ Chúa vì hồng ân giáng sinh này và đáp trả lại bằng một đời sống chứng nhân đượm tình bác ái đối với tha nhân.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Is 9,1-6.
Dân Do thái đã bị quân Assyri đến xâm chiếm và đặt ách thống trị bạo tàn trên họ. Với tư thế là một dân tộc bị trị, dân chúng chỉ còn biết rên siết dưới gông cùm của ngoại bang :”Dân tộc bước đi trong u tối”.
Nhưng giữa đau khổ, hãi hùng và thất vọng của dân chúng, Isaia tiên báo một thời tươi sáng sẽ tới. Hãy tin tưởng vì Chúa sẽ đến đập tan gông cùm của kẻ thù, sẽ giải thóat cho dân : Bởi vì một Hài nhi đã sinh ra cho chúng tôi và một người con sẽ được ban tặng cho chúng tôi”.
Lời tiên báo đầy phấn khởi ấy đã được ứng nghiệm khi Israel được thóat khỏi ách thống trị của Assyria. Nhưng ơn cứu độ mà Isaia loan báo đó không phải chỉ hạn hẹp trong dân tộc Israel mà nó còn có một chiều kích rộng rãi hơn, nghĩa là ơn cứu thóat ấy chỉ được thực hiện một cách trọn vẹn với Đấng Messia.
+ Bài đọc 2 : Tt 2,11-14.
Thánh Phaolô nói cho Titô và cho chúng ta biết : Đức Giêsu là ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ và ban cho ta trong ngày giáng sinh, và ân sủng ấy vẫn còn khi Đức Giêsu lại xuất hiện trong vinh quang ngày Ngài trở lại trần gian. Chúng ta hãy sống xứng đáng với ân sủng bằng cách :”Từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức”.
+ Bài Tin mừng : Lc 2,1-14.
Sau bao ngàn năm trông đợi, giây phút quan trọng đã đến. Thánh Luca đã giới thiệu cho chúng ta : Đấng Cứu Thế đã đến trong thân phận một bé thơ nơi hang đá Be lem. Bà Maria đã đến ngày mãn nguyệt khai hoa nên đã sinh ra con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ. Tuy Chúa Cứu Thế sinh ra trong cảnh cô đơn lạnh lẽo ấy, không ai biết tới nhưng trên không trung các thiên thần vẫn ca hát :
Vinh danh Chúa Cả trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Các thiên thần cho biết đây là Tin mừng cho cả nhân lọai, nhưng Tin mừng này trước tiên được loan báo cho những người chăn chiên nghèo khổ. Chính những người nghèo khổ này đã được hân hạnh thay cho loài người đến triều bái Chúa Hài Nhi.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Tình yêu trao ban và đáp trả
I. MỖI NĂM LỄ GIÁNG SINH VỀ
Mỗi năm lễ Giáng sinh về, mọi người đều nô nức đón mừng từ trong tâm hồn ra đến cảnh trí bên ngoài. Sau bốn tuần lễ Mùa Vọng, bầu khí có vẻ âm u trầm lặng, mong đợi, hôm nay bầu khí trở nên tưng bừng nhộn nhịp, cảnh trí trở nên sáng sủa. Người Công giáo mừng kỷ niệm Chúa Giêsu giáng trần làm người vào đêm 24 sang ngày 25 tháng 12 hằng năm. Đêm mừng kỷ niệm đó là đêm thánh. Tại sao gọi là đêm thánh ? Phải chăng đêm này khác hẳn mọi đêm ? Đêm nay đã trở nên đêm thánh, vì Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa sinh ra xuống thế làm người trong đêm nay. Đấng Thánh sinh ra trong đêm nay đã biến nó thành đêm thánh.
Đối với đa số người Công giáo cũng như không Công giáo thì Giáng sinh là một mùa hân hoan vui mừng, với khung cảnh trang hòang lộng lẫy trong nhà, cũng như bên ngoài : những hang đá máng cỏ, những cây sinh nhật trông đẹp mắt, cũng như nhạc Giáng sinh vui làm rộn lòng người. Tới mùa Giáng sinh, các tiệm đua nhau trang hoàng để thu hút khách hàng. Người ta nô nức gửi thiệp Giáng sinh, quà Giáng sinh và chúc mừng nhau bằng những lời lẽ tốt đẹp. Trong những nước có chiến tranh, thì mỗi mùa Giáng sinh đến, các phe nhóm giao chiến thường đồng ý buông súng để mừng lễ Giáng sinh.
Hôm nay, cùng với Giáo hội, và toàn thế giới, chúng ta hân hoan mừng lễ Sinh nhật của Chúa Giêsu, một Hài Nhi sinh ra trong máng cỏ của súc vật cách đây 2000 năm. Nếu ngồi lại suy nghĩ theo tự nhiên, có lẽ nhiều người có thể đặt câu hỏi : Tại sao muôn người trên thế giới lại đi mừng lễ Sinh nhật của một con người bé nhỏ như thế ? Câu trả lời cũng thật đơn giản : Bởi vì Hài nhi Giêsu bé nhỏ nằm trong máng cỏ nghèo hèn trước mặt chúng ta đây chính là Thiên Chúa thật. Với việc nhập thể của Ngôi Hai, Con Thiên Chúa đã làm người để đưa từng người chúng ta lên địa vị con Thiên Chúa.
Hài nhi Giêsu đích thực là Thiên Chúa, cũng chính là điều mà Giáo hội muốn từng người chúng ta xác tín qua phần phụng vụ Lời Chúa trong Thánh lễ hôm nay.
II. CHÚNG TA MỪNG LỄ GIÁNG SINH
- Một biến cố vĩ đại
a) Lời tiên tri báo trước
Hài nhi sinh ra trong hang đá Belem không phải là một sự tình cờ mà đã được loan báo trước từ lâu và mọi người đang mong đợi. Hài nhi là Đấng mà các Tổ phụ dân Israel lâu nay vẫn mong đợi. Ngài là Đấng Thiên Chúa hứa ban ngay sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội, Ngài chính là “dòng dõi của người nữ sẽ đạp giập đầu rắn”(St 3,15).
Bảy trăm năm trước khi Ngài sinh ra thì Isaia đã tiên báo:”Dân đi trong tối tăm đã thấy ánh sáng chói lọi… Chính Chúa sẽ ban cho các ngươi một điềm lạ : một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh một con trai, đặt tên là Emmanuel : Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”(Is 7,14; 95,6).
Và tiên tri Mikêa, sống đồng thời với Isaia, đã thốt lên những lời đầy an ủi:”Hỡi Belem, nhỏ bé trong đất Giuđa, song từ nơi ngươi sẽ xuất hiện Đấng cai trị Israel, nguồn gốc Ngài có từ xa xưa, từ trước muôn đời, Ngài sẽ cai trị với sức mạnh của Chúa Giavê… Chính Ngài sẽ đem lại cảnh thái bình”(Mk 5,1-4)
Tin mừng này cũng được báo trước cho Giuse:”Maria sẽ sinh con trai, hãy đặt tên là Giêsu vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi”(Mt 1,21). Tin mừng này có nghĩa là Thiên Chúa toàn năng, Đấng chủ tể vũ trụ đã sai Đức Giêsu giáng trần là Đấng cứu chuộc tội loài người.
b) Đức Giêsu sinh ra.
* Việc kiểm tra dân số :
Kiểm tra dân số khắp thiên hạ là kiểm tra dân số trong toàn lãnh thổ của đế quốc Rôma thời bấy giờ. Đối với hoàng đế Augustô xưa cũng như đối với các nhà cầm quyền các quốc gia ngày nay, kiểm tra dân số là một việc bình thường, mang tính kiểm kê thực tế để biết nhu cầu và khả năng của đất nước, dân tộc, đế quốc mình trước khi toan tính một kế hoạch hay chương trình gì đó, ví dụ đem quân xâm chiếm các nước khác hay lên kế hoạch thu thuế cho ngân sách. Bình thường thì dân số càng đông thì nguồn thu từ các sắc thuế càng lớn. Và cũng tùy thuộc vào dân số mà nhà cầm quyền ấn định mức độ thuế cho phù hợp.
Nhưng đối với thánh Giuse và Đức Maria thì việc kiểm tra dân số của vua Augustô là biến cố khiến các ngài phải từ Nazareth (xứ Galilê) đi lên thành Belem (xứ Giuđê) là thành của Đavít, vì Giuse là người thuộc dòng dõi Đavít. Belem chỉ là một thị trấn nhỏ. Ông Giuse không tìm ra chỗ trọ cho hai người, có thể vì ông bà đến trễ, nên không còn chỗ; cũng có thể ông bà không có nhiều tiền để thuê một phòng, một chỗ trọ trong nhà, nên đành phải “tạm náu” trong nơi trú nắng trú mưa của chiên bò ngòai cánh đồng Belem.
* Trong hang đá Belem
Chúng ta thử tưởng tượng xem một vị hòang đế trần gian nếu biết trước đứa con của mình sinh ra sẽ là vị cứu tinh của trần gian, thì hòang đế sẽ chuẩn bị cho người con ấy chào đời như thế nào ? Chắc chắn ông sẽ chuẩn bị cho con mình một nơi thật xứng đáng, với quần áo, tã lót, chăn mền… thật sang trọng. Và cũng tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho người mẹ sinh ra con mình. Chính vì tưởng rằng Thiên Chúa trên trời cũng suy nghĩ như mình, nên người Do thái thời Đức Giêsu đã tưởng Đấng Cứu Thế sẽ phải sinh ra trong cung vàng điện ngọc. Nhưng họ không ngờ Thiên Chúa suy nghĩ khác hẳn với cách nghĩ của họ.
Theo Tin mừng, Đức Giêsu đã sinh ra trong hang bò lừa. Đã là chỗ nuôi và chứa súc vật đương nhiên phải là hôi tanh và bẩn thỉu. Chắc chắn Giuse và Maria phải hết sức ngỡ ngàng khi thấy Thiên Chúa đối xử với mình, nhất là với Đấng Cứu Thế hài nhi như vậy ! Nhục nhã thay cho Đấng Cứu Thế ! Bất kỳ ai biết mình chào đời trong một chỗ tối tăm và nhục nhã cũng như thế. Tuy thế, trên không trung các thiên thần ca hát vang lừng : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Còn ở dưới đất chẳng có ai đến kính viếng, chỉ có mấy con bò lừa thở hơi ấm cho Chúa Hài nhi. Thiên thần Chúa đến báo tin cho các mục đồng trong vùng :”Ta báo cho các ngươi Tin mừng trọng đại, cũng là Tin mừng cho tòan dân : Hôm nay, một Đấng Cứu thế đã sinh ra cho các ngươi trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa…”
Sau khi được đón nhận sứ điệp của Thiên Chúa, các mục đồng đã không ngồi lại. Sứ điệp đó đòi họ phải hành động, phải ra đi và tìm kiếm con trẻ. Vì thế, họ đã làm một cuộc hành trình đến Belem, và đã được nhìn thấy đúng như lời loan báo của các sứ thần. Bằng con mắt hướng ra bên ngòai, tất cả các mục đồng đã nhìn thấy một con trẻ “quấn khăn nằm trong máng cỏ”. Nhưng với con mắt hướng vào bên trong – con mắt đức tin – họ đã nhận ra con trẻ này là Đấng Cứu Độ, đã được Thiên Chúa sai đến.
- Đây là mầu nhiệm nhập thể
a) Ý nghĩa lễ Giáng Sinh
Giáng Sinh là biến cố nhập thể. Nhập thể có nghĩa là Con Thiên Chúa xuống thế, mang thân phận con người chúng ta, để ban cho chúng ta tư cách làm con Thiên Chúa. Mầu nhiệm nhập thể là mầu nhiệm của tình yêu. “Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và Người đã cư ngụ giữa chúng ta”(Ga 1,14); hoặc như Luca diễn tả:”Hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta”(Lc 2,11). Chính vì thế, khi nhập thể, Ngôi Lời đã có một tên gọi mới : Emmanuel = Thiên – Chúa – ở – cùng – chúng – ta.
Như vậy, chính qua Thánh Kinh mà chúng ta tìm được ý nghĩa và mục đích của biến cố giáng sinh. Cho nên, chúng ta không thể mừng biến cố Giáng sinh mà lại không có mặt Đấng Emmanuel, không thể gọi là lễ Giáng Sinh mà lại vắng Chúa Hài đồng.
Với những người không tin vào Đấng Cứu Độ, lễ Giáng Sinh có thể chỉ là dịp để mua sắm, tặng quà, ăn uống, vui chơi. Và họ cho thế là đủ. Nhưng với chúng ta, những người tin vào Đấng Emmanuel, điều quan trọng nhất là gặp được Chúa Kitô, Đấng là Thiên Chúa đã cư ngụ giữa chúng ta.
Thật vậy, biến cố Giáng Sinh chính là cuộc gặp gỡ giữa Đất-Trời, giữa con người với Thiên Chúa. Cuộc gặp gỡ ấy cần sự có mặt của hai bên. Về phía Thiên Chúa, Ngài đã hòan tất một chặng đường dài qua việc nhập thể và đi vào thế giới con người để tìm gặp con người. Về phía nhân lọai, con người chỉ cần bước đi một quãng đường ngắn như các em mục đồng tại Belem, hay một quãng đường dài hơn một chút như các đạo sĩ Đông phương, là chắc chắn sẽ gặp được Đấng Emmanuel. Đó chính là ý nghĩa và mục đích của lễ Giáng Sinh.
Việc Ngôi Hai nhập thể là một mầu nhiệm, một trong ba mầu nhiệm vĩ đại nhất trong Đạo là Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi, Ngôi Hai xuống thế làm người và chịu chết chuộc tội cho lòai người. Xem ra với con mắt lòai người , việc nhập thể ấy không thể thực hiện được, nhưng đã trở thành hiện thực trong Lễ Giáng sinh hôm nay.
Truyện : Đàn ngỗng tìm chỗ trú.
Vào một mùa Giáng Sinh nọ, trước giờ đi lễ, vị chủ nông trại đang thưởng thức nhạc Giáng Sinh, bỗng đâu cả đàn ngỗng của ông tụ lại trước sân nháo nhác tìm chỗ trú. Chúng vừa đói, vừa lạnh, lông cánh rối bời. Tất cả người làm đều đã nghỉ cả, người chủ cũng đều sắp đóng cửa về Thành phố dự Thánh Lễ. Bởi vậy ông bèn ra lùa đàn ngỗng vào chuồng, nhưng chúng không biết ông nên dù gào thét khản cả tiếng, chạy ngược chạy xuôi, đã rời cả đôi chân mà vẫn không đem được một con nào vào chuồng. Thấy vậy ông thầm ước với mình:”Ước gì tôi được làm ngỗng trong chốc lát, để tôi có thể dùng tiếng lòai ngỗng mà nói cho chúng hiểu ước muốn của tôi và cho chúng biết đâu là chốn hiểm nguy, đâu là nơi an tòan”. Bỗng chốc, ông đã trở thành một con ngỗng đứng giữa bầy như ước nguyện.
Có thể chúng ta sẽ coi là vô lý khi thấy người biến thành ngỗng. Thế nhưng, có một điều khác còn phi lý hơn mà Giáo hội đang mời gọi chúng ta chiêm ngắm, đó là hang đá Belem, nơi Thiên Chúa Vua Cả trời đất giành lấy thân phận làm người, sinh ra trong hang bò lừa máng cỏ. Ngài làm người để rồi sẽ dùng ngôn ngữ của lòai người mà chỉ dạy cho con người lối về quê thật (Đ.Ô Nguyễn văn Tài).
b) Tại sao Thiên Chúa lại giáng sinh ?
Khi hỏi tại sao Thiên Chúa giáng sinh làm người, chúng ta chỉ có thể trả lời là Thiên Chúa yêu thương lòai người. Theo cha Cantalamessa, vị giảng thuyết của phủ Giáo hoàng, thì không phải Thiên Chúa nhập thể để có một người bên ngòai Ngài để yêu thương Ngài trong một cách thế cao nhất, một cách xứng đáng với Thiên Chúa (như Duns Scott chủ trương) nhưng là Thiên Chúa “yêu” và “yêu trước” (x.1Ga 4,10,19). Thiên Chúa muốn có sự nhập thể của Ngôi Con không phải để có một người bên ngòai Ba Ngôi yêu mến Ngài cách xứng đáng nhưng để có người cho Ngài yêu một cách xứng đáng với Ngài, nghĩa là yêu vô hạn.
Trong ngày Giáng Sinh, khi Hài nhi Giêsu giáng trần, Chúa Cha có người để yêu trong một cách thế vô hạn bởi vì Chúa Giêsu gồm cả con người và Thiên Chúa. Nhưng không chỉ Chúa Giêsu mà thôi, nhưng là tất cả chúng ta cùng với Ngài. Chúng ta được bao gồm trong tình yêu này, khi trở thành những thành viên của nhiệm thể Chúa Kitô, “con trong Con”. Lời tựa trong sách Phúc âm của thánh Gioan nhắc nhở chúng ta:”Những ai đón nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền trở nên con cái Thiên Chúa”.
Do đó, Đức Kitô thực đã từ trời xuống thế “để cứu rỗi” chúng ta, nhưng điều khiến Ngài bỏ trời mà xuống thế gian để cứu rỗi chúng ta là tình yêu, không gì khác hơn là tình yêu.
Truyện : Hoàng tử Alexis.
Truyện cổ nước Nga thuật lại rằng vào thời Trung cổ, Hòang tử Alexis của Nga cũng như bao vua chúa khác sống trong cung điện nguy nga tráng lệ, trong khi đó dân chúng chung quanh phải sống trong những khu xóm nghèo nàn tồi tệ. Thế nhưng Alexis không phải là người không biết trắc ẩn trước cảnh cơ cực của thần dân. Để cải tiến cuộc sống của họ, ông bỏ ra mỗi ngày ít thời giờ để thăm viếng họ. Tuy nhiên, dù cố gắng đến đâu, Alexis vẫn không thu phục được lòng tín nhiệm và yêu mến của thần dân. Vì thế, sau mỗi lần thăm viếng, ông trở về Hòang cung, lòng không bao giờ cảm thấy vui.
Một ngày nọ, dân chúng bỗng phát hiện được một người lạ mặt đi vào khu xóm của họ. Trong cách ăn mặc đơn sơ, anh tự xưng là bác sĩ, anh muốn săn sóc những người già cả và mọi bệnh nhân, anh thuê một túp lều trong ngõ hẻm và bắt đầu đi khám bệnh cho những người nghèo. Điều đặc biệt là viên bác sĩ này không lấy tiền thù lao, và còn phát thuốc miễn phí cho các bệnh nhân.
Không bao lâu, anh đã chinh phục được lòng quí mến của đám dân nghèo, đó là điều mà trước đây hòang tử không bao giờ đạt được. Người Bác sĩ ấy trở thành một người của xóm nghèo, và dần dần anh biến đổi bầu khí tinh thần của xóm này. Ngày ngày anh dàn xếp các cuộc cãi vã, tranh giành, anh hòa giải những người thù óan nhau và giúp đỡ mọi người sống xứng với phẩm giá con người hơn.
Thật ra, người Bác sĩ trẻ đó chính là Hòang tử Alexis – người đã bỏ cung điện giầu sang đến sống với các thần dân nghèo và trở nên một người trong họ (Wahrheit, Tìm về cõi phúc, tr 134-135).
c) Ngày Đất-Trời gặp nhau.
Giáng Sinh là giây phút Đất Trời gặp nhau, qua đó cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người được thực hiện. Đây là giây phút Thiên Chúa làm người, đây là giây phút Con Thiên Chúa nhận lấy bản tính lòai người để giao hòa nó với Đấng tạo dựng nên nó. Trong bài thánh ca “Đêm thánh vô cùng” chúng ta hát :”Đất với trời se chữ đồng”. Đúng như vậy, trời đất gặp nhau bởi vì Thiên Chúa xuống thế làm người để chúng ta làm Thiên Chúa. Ngài muốn chia sẻ với chúng ta thân phận con người để ở với chúng ta, gần gũi chúng ta, để chúng ta thế nào Ngài cũng trở nên thể ấy. Thật là một cuộc gặp gỡ kỳ diệu không thể tưởng tượng nổi.
Truyện : Muốn đồng thân phận.
Một vị quan lớn mở tiệc mời nhiều người đến dự. Tất cả các người được mời đều ăn mặc sang trọng và dùng xe đi đến. Trong số ấy có một người khách già. Rủi thay vì già yếu nên ông cụ này khi xuống xe đã trượt chân té vào vũng nước bùn. Những khách khác thấy vậy cười nhạo ông. Xấu hổ và cảm thấy mình không xứng đáng, ông quyết định quay về. Gia nhân nài nỉ cách mấy ông cũng không chịu ở lại dự tiệc. Khi đó vị quan chủ tiệc bước ra sân, đi tới chỗ vũng nước đó, rồi cũng cố tình té ngã vào vũng nước. Thế là quần áo của ông quan cũng dơ dáy y như cụ già kia. Mọi người chung quanh chẳng ai dám cười nhạo nữa. Sau đó vị quan lớn cầm tay cụ già đưa vào phòng tiệc. Ông cụ chẳng còn lý do nào để chối từ nữa (Góp nhặt).
d) Đức Giêsu trở nên “Đấng Chí Trung Hòa”.
Đức Giêsu đã sinh ra trở thành Đấng Emmanuel : Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Ngài ở với lòai người, Ngài sẽ chết trên thập giá và sống lại vinh quang để trở nên Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và lòai người.
Theo Đông phương, Đức Giêsu Kitô là Đấng “Chí Trung Hòa”. Chữ Trung : O gồm nét sổ thẳng chính giữa tâm hình tròn. Hình tròn biểu tượng thái cực là trời, là Thiên Chúa. Hình tròn viết thành chữ thì biến thành hình vuông, vuông chỉ đất là người. Nét sổ thẳng chính trung tâm vuông tròn không xê dịch, đó là Chí Trung, dấu chỉ Đức Giêsu Kitô là trung tâm trời đất. Còn Chí Hòa, chữ Hòa gồm chữ Hòa là lúa và chữ Khẩu là miệng : *P* cơm bánh là thực phẩm hợp khẩu vị nhất, là đồ ăn hòa đến cùng cực để trở nên sự sống của lòai người. Đức Kitô đã biến bánh miến và rượu nho trở nên Thịt Máu mình để trở nên của ăn của uống ban cho chúng ta sự sống muôn đời. Một sự hòa đồng cùng cực :”Chí Hòa”. Thật Người là Đấng Chí Trung Hòa để cho tất cả nên một. Thiên Chúa và con người không còn xa cách, không còn khỏang không gian nào phân ly nữa…
Đức Giêsu Kitô sinh là Đấng Chí Trung Hòa đem niềm vui trọn vẹn cho Thiên Chúa và cho nhân lọai trong tình yêu hợp nhất, một sự sống vô tận. Không còn niềm vui nào lớn lao hơn nữa (Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm B, tr 22-23).
III. TÂM TÌNH NGÀY LỄ GIÁNG SINH
- Ý tưởng về ngày lễ Giáng sinh
Hôm nay mọi người đều nô nức đi dự lễ, kể cả những người ngòai Công giáo. Tuy mừng lễ nhưng mỗi người có một cái nhìn về ngày lễ : họ cũng mừng lễ, chúng ta cũng mừng lễ, nhưng tâm tình về ngày lễ thì khác nhau. Vậy chúng ta có tâm tình nào ? Với ý tưởng gì ? Ta có những ý tưởng tốt đẹp và cao quí của ngày lễ Giáng sinh không ? Hay chỉ nghĩ rằng hôm nay là ngày lễ để vui chơi, để có dịp gặp nhau hoặc có dịp khoe thời trang ?
Truyện : Ý tưởng về Lễ Giáng sinh.
Một giáo sư tâm lý của một trường đại học tại Hoa kỳ ra một bài thi để dò xem ý tưởng của 40 sinh viên trong lớp của mình. Trước hết ông bảo họ lấy giấy bút ra viết chữ “Lễ Giáng Sinh”, rồi ông nói :”Bây giờ các anh chị hãy viết vào sau chữ ấy cái ý nghĩ đầu tiên mà các anh chị liên tưởng đến về ngày lễ ấy.
Khi họ nộp quyển, ông coi lại thì thấy có những chữ sau đây : cây giáng sinh, dây kim tuyến, tặng phẩm, gà tây, bài ca giáng sinh và ông già Noel, không có một ai viết “Ngày Chúa Giêsu ra đời”.
Ngày lễ Giáng sinh không còn ý nghĩa cao quí của nó nữa, người ta đã tục hóa lễ Giáng Sinh, người ta chỉ coi lễ Giáng Sinh là một ngày vui chơi cho mọi người, thậm chí có người lợi dụng lễ Giáng Sinh để kinh doanh.
Hôm nay chúng ta nghĩ gì về lễ Giáng Sinh ? Nếu chúng ta quên hay không biết thì chúng ta hãy nhớ lại rằng : Chúng ta mừng lễ Giáng Sinh là có ý kỷ niệm ngày Thiên Chúa giáng trần, ngày Thiên Chúa làm người và ở cùng chúng ta. Chúng ta hãy nhìn vào chữ Emmanuel hay chữ Noel để nhớ đến ý nghĩa của ngày lễ.
- Chỉ có tình yêu đáp trả tình yêu
Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến nỗi đã sai Đức Giêsu Kitô, người Con yêu duy nhất của Ngài xuống thế làm người, chung sống với lòai người, để cứu độ lòai người. Cách thức Thiên Chúa dùng để biểu lộ tình yêu của Ngài dành cho chúng ta cũng phải trở nên mẫu mực của tình yêu mà chúng ta dành cho Chúa và dành cho nhau. Nghĩa là tình yêu của chúng ta dành cho Chúa và dành cho nhau cũng cần một hình thù cụ thể nào đó, kẻo người ta sẽ bảo tình yêu đó chỉ ở trên đầu môi chót lưỡi :
Thương thương, nhớ nhớ, thương thương,
Nước kia muốn chảy mà mương không đào.
Đối với Chúa, chúng ta chỉ có thể đáp trả lại tình yêu của Ngài bằng cách thi hành trọn vẹn thánh ý Ngài như một đứa con thơ dễ bảo. Còn đối với tha nhân thì chúng ta phải có những việc làm cụ thể hơn.
Trong dịp lễ Giáng Sinh chúng ta thường mua những món quà đắt tiền để tặng nhau, tuy nhiên giá trị của quà tặng lại tùy thuộc vào tấm lòng của người tặng quà. Cuộc sống sẽ luôn thi vị nếu còn mãi những nghĩa cử tặng quà. Cũng như cuộc sống không thể vắng bóng tinh thần trao ban. Ai trong chúng ta cũng có cái để trao ban. Đó có thể là chúng ta biết để thời giờ để hỏi thăm, gặp gỡ bà con thân thuộc, người cùng khu xóm. Khi chúng ta biết rộng lòng giúp đỡ vật chất cho những người nghèo, những nạn nhân của thiên tai lũ lụt. Khi chúng ta biết tặng cho những người mình yêu mến như cha mẹ, anh em, bạn bè, người yêu những món quà bất ngờ thắm thiết tình người.
Tóm lại, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta. Việc Ngôi Hai xuống thế là dấu chỉ lòng yêu thương của Chúa đối với chúng ta không bờ bến. Chỉ có tình yêu mới đáp trả được tình yêu. Chúng ta phải yêu Chúa và yêu tha nhân thì mới đáp trả được tình yêu của Chúa đối với ta, với một tình yêu quảng đại, tha thiết và hy sinh. Câu truyện cảm động dưới đây giúp chúng ta suy niệm về tình yêu của Chúa đối với chúng ta và tình yêu của chúng ta đối với Chúa.
Truyện : Hòang tử và cô gái.
Hòang tử của một vương quốc rất giầu có, lại đem lòng yêu thương một cô gái xinh đẹp là con một người làm bánh mì. Tuy bị hòang gia phản đối nhưng hòang tử nhất mực cưới nàng làm vợ. Lễ thành hôn được tổ chức kín đáo và đơn giản trong đền vua, không có khách quí nào tham dự, không có đại diện các nước lân bang.
Nhiều năm trôi qua, hòang tử và cô gái xinh đẹp sống những ngày rất êm đềm hạnh phúc. Đến ngày vua cha băng hà, hòang tử được lên ngôi vua thay cha cai trị dân nước. Bấy giờ các quan triều đình mới cho hòang tử hay biết, vì hạnh phúc của dân nước, ngài phải chọn một trong hai điều : hoặc là khước từ ngai vàng, hoặc phải rẫy bỏ người vợ đẹp để chính thức thành hôn với công chúa của nước láng giềng.
Hòang tử phân vân giữa hạnh phúc cá nhân và an ninh trật tự của dân tộc. Trong khi đó, các quan cận thần thuyết phục hòang tử rằng cô vợ đẹp ấy cũng chỉ là cô con gái nhà nghèo.
Cuối cùng, hòang tử xiêu lòng và phải ngậm ngùi tâm sự với vợ :”Vì an bình và hạnh phúc của cả dân nước, anh đành phải từ bỏ em, em hãy trở về gia đình và có thể đem theo cái gì quí nhất đối với em”.
Tối hôm ấy, hòang tử và người đẹp dùng bữa cơm cuối cùng tại hòang cung. Bữa cơm chia ly sao mà buồn thế ? Hòang tử ăn trong nước mắt, lòng buồn rười rượi không nói lên lời. Tuy nhiên, người vợ vẫn thản nhiên chuốc rượu cho chồng, cạn ly này rồi lại đầy ly khác, trong khi hòang tử lại cố uống cho quên sầu.
Sau bữa ăn thì hòang tử đã quá say không còn biết gì nữa. Lúc ấy, nàng lấy chăn trùm kín hòang tử rồi vác lên vai, kín đáo đi lối sau ra khỏi hòang cung về nhà cha mẹ.
Sáng hôm sau, khi đã tỉnh rượu, hòang tử mở mắt ra thấy mình trong căn nhà nghèo nàn của người làm bánh mì. Hòang tử ngạc nhiên hỏi :
– Làm sao thế này ? Anh đang ở đâu ?
Cô vợ mỉm cười đáp :
– Không phải là anh đã nói là em phải trở về nhà cha mẹ và có thể đem cái gì quí nhất đối với em sao ? Thật vậy, điều quí nhất đối với em không phải là gì khác hơn chính là hòang đế của lòng em.
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt
………………………
Suy Niệm 4: Ánh mắt Giáng sinh
Hầu hết tất cả các nhà thờ công giáo ở Đức không trang trí đèn điện bên ngoài trong mùa Giáng sinh. Họ không có tập tục đó và cũng không muốn a dua bắt chước ai. Trong nhà thờ chỉ có mấy cây thông là nổi bật, còn hang đá thì rất khiêm tốn giản dị nhưng mọi ánh mắt đều tập trung vào đó. Mọi người có thể mường tượng ra hang Belem năm xưa nơi Hài Nhi Giêsu giáng trần cùng với cha mẹ, một số thú vật và các mục đồng. Con Chúa Trời nằm trên máng cỏ nơi chứa lương thực cho gia súc! Thật là một hình ảnh gây sốt! Thật là một biến cố bất ngờ ngoài dự liệu. Trong đêm cực thánh này Thiên Chúa đã ban tặng Con Một của Ngài cho con người cùng toàn thể tạo vật. Thiên Chúa đã dùng hình ảnh này để gây ấn tượng một cách tuyệt vời và qua đó diễn tả tình yêu của Ngài dành cho con người. Thiên Chúa đã mặc lấy xác phàm để ở giữa chúng ta. Còn quà tặng nào vĩ đại hơn mà Thiên Chúa có thể dùng để ban tặng cho chúng ta? Thiên Chúa muốn nói với chúng ta khi chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu: Chính vì bạn mà Ta đã xuống thế làm người để tạo tình liên đới với bạn, chính bạn cũng hoàn toàn thuộc về Ta vì Ta đã tạo dựng nên bạn. Ta yêu bạn vô giới hạn. Dù bạn là ai Ta cũng chấp nhận bạn, với những khả năng và phẩm chất của bạn, với những thành công và thất bại trong cuộc sống của bạn, với những yếu đuối và thiếu xót, với những tha thứ và tội lỗi của bạn. Hài nhi Giêsu muốn nói với tôi: Ta không phải là kẻ làm ngơ khi đối diện với bạn; Ta không giờ bỏ rơi, để bạn chiến đấu đơn độc; Ta luôn luôn cùng đồng hành và đứng về phía bạn. Ta đã ban tặng bạn một nhân phẩm bất khả xâm phạm. Như vậy tâm điểm của mùa Giáng sinh không phải là vẻ hoành tráng xa hoa bên ngoài mà là Hài Nhi Giêsu, là nơi đất trời được giao hoà.
Hình ảnh thứ hai đập vào mắt chúng ta là những mục đồng, những kẻ canh thức để trông coi đàn chiên, những kẻ đã lên đường hướng về hang Belem, đáp trả sứ điệp mà các thiên thần đã loan báo. Họ thuộc tầng lớp thấp kém trong xã hội, sống giản dị mộc mạc. Những kẻ phải gánh vác sự nặng nhọc dưới nắng đốt ban ngày và chấp nhận cảnh giá lạnh ban đêm. Họ tin vào lời của sứ thần và xum vầy bên máng cỏ để mục kích những gì đang xảy ra tại đây. Chuyện gì đang xảy ra trong lúc này nơi tâm hồn họ? Dĩ nhiên là họ chiêm ngắm Hài Nhi đang giơ tay mỉm cười nhìn họ. Họ nhận được một vinh dự lớn lao vì Thiên Chúa đã bước vào cuộc sống của họ. Họ là những nhân chứng đầu tiên, những người được vinh dự mục kích giây phút thiêng liêng này. Họ là những người đầu tiên được gặp gỡ Con Thiên Chúa. Họ đã tìm thấy Thiên Chúa của họ và họ không còn cách nào khác ngoài việc quỳ gối bái lạy. Họ cuối cùng đành phải rời hang Belem để ra đi loan báo tin mừng trọng đại này.
Hình ảnh thứ ba chính là cảnh tượng nao nức nhộn nhịp chung quanh hang Belem. Trên không trung là tiếng hiệp xướng vang vọng từ ca đoàn các thiên thần. Các thiên thần cũng đóng một vai trò quan trọng trong đêm Giáng sinh. Niềm vui lớn lao mà các ngài loan báo cho các mục đồng không thể giới hạn bên hang Belem mà còn phải lan toả khắp nơi, đến với toàn dân thiên hạ để mọi người được chung niềm vui. Đây cũng là sứ điệp mà mỗi một người chúng ta cần phải cảm nhận khi đứng trước hang đá để chiêm ngưỡng Hài Nhi Giêsu.
Chúng ta cũng cần những sứ thần như thế trong cuộc sống hằng ngày. Các ngài loan báo và hướng dẫn chúng ta đến với niềm vui đang chờ đợi phía trước. Các thiên thần là sứ giả của Thiên Chúa, qua lời nói và việc làm của các ngài giúp chúng ta hiểu ra ý muốn của Thiên Chúa trong cuộc sống của chính mình. Ngoài ra chúng ta còn có vô vàn vô số chứng từ của các sứ giả trong Cựu ước và Tân ước. Chúng ta luôn cần các thiên thần của mùa Giáng sinh. Các ngài giúp chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa và cùng đồng hành với chúng ta trong cuộc sống. Qua đó chúng ta tìm được địmh hướng, tìm được điểm tựa, tìm thấy sức mạnh và hy vọng, nhất là giúp chúng ta uốn nắn tạo hình cho cuộc sống của bản thân. Chúng ta cần sự nhạy cảm để có thể nghe được tiếng của các thiên thần đang thì thào trong tâm hồn, để có thể lắng nghe tiếng Chúa giữa một mớ âm thanh hỗn độn đầy cạm bẫy. Chúng ta cũng cần ánh mắt nhân hậu tự đáy con tim dành cho các thiên thần. Có các ngài cùng đồng hành chúng ta có đủ can đảm và niềm vui để tiến bước.
Lm Phêrô Trần Minh Đức

