BÀI ĐỌC I: Is 11, 1-10
Ngày ấy, từ gốc Giêsê sẽ đâm ra một chồi và cũng từ gốc ấy sẽ đơm lên một bông hoa. Trên bông hoa ấy, thần linh của Thiên Chúa sẽ ngự xuống, tức thần khôn ngoan và thông suốt, thần chỉ dẫn và sức mạnh, thần hiểu biết và đạo đức, và thần ấy sẽ làm cho Ngài biết kính sợ Thiên Chúa. Ngài không xét đoán theo như mắt thấy, cũng không lên án theo điều tai nghe, nhưng Ngài sẽ lấy đức công minh mà xét xử những người nghèo khó, và lấy lòng chính trực mà bênh đỡ kẻ hiền lành trong xứ sở. Ngài sẽ dùng lời như gậy đánh người áp chế, và sẽ dùng tiếng nói giết chết kẻ hung ác. Ngài lấy đức công bình làm dây thắt lưng, và lấy sự trung tín làm đai lưng. Sói sống chung với chiên con; beo nằm chung với dê; bò con, sư tử và chiên sẽ ở chung với nhau; con trẻ sẽ dẫn dắt các thú ấy. Bò (cái) và gấu (cái) sẽ ăn chung một nơi, các con của chúng nằm nghỉ chung với nhau; sư tử cũng như bò đều ăn cỏ khô. Trẻ con còn măng sữa sẽ vui đùa kề hang rắn lục, và trẻ con vừa thôi bú sẽ thọc tay vào hang rắn độc. Các thú dữ ấy không làm hại ai, không giết chết người nào khắp núi thánh của Ta. Bởi vì thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Chúa, như nước tràn đầy đại dương. Ngày ấy gốc Giêsê đứng lên như cờ hiệu cho muôn dân. Các dân sẽ khẩn cầu Ngài, và mộ Ngài sẽ được vinh quang.
BÀI ĐỌC II: Rm 15, 4-9
Anh em thân mến, những gì đã viết ra là có ý để giáo huấn chúng ta, hầu nhờ Thánh Kinh thêm sức và an ủi, chúng ta được cậy trông. Xin Thiên Chúa, nguồn kiên tâm và an ủi, ban cho anh em biết thông cảm với nhau theo gương Chúa Giêsu Kitô, để anh em đồng thanh tôn vinh Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì thế, anh em hãy tiếp rước nhau như chính Chúa Giêsu đã tiếp nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa. Vì chúng tôi quả quyết với anh em: để chứng tỏ sự chân thật của Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô đã phục vụ những người chịu phép cắt bì, hầu xác nhận lời hứa cùng các tổ phụ. Còn dân ngoại, họ tôn thờ Thiên Chúa vì lòng nhân từ Người, như lời chép rằng: “Vì vậy, lạy Chúa, con sẽ cao rao Chúa và sẽ ca tụng danh Chúa giữa các dân ngoại”.
PHÚC ÂM: Mt 3, 1-12
Ngày ấy, Gioan Tẩy Giả đến giảng trong hoang địa xứ Giuđêa rằng: “Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến”. Chính ông là người mà Tiên tri Isaia đã tiên báo: “Có tiếng kêu trong hoang địa rằng: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng”. Bởi vì chính Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Bấy giờ dân thành Giêrusalem, khắp xứ Giuđêa và các miền lân cận sông Giođan tuôn đến với ông, thú tội và chịu phép rửa do tay ông trong sông Giođan. Thấy có một số đông người biệt phái và văn nhân cũng đến xin chịu phép rửa, thì Gioan bảo rằng: “Hỡi nòi rắn độc, ai bảo các ngươi trốn lánh cơn thịnh nộ hòng đổ xuống trên đầu các ngươi. Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối. Chớ tự phụ nghĩ rằng: tổ tiên chúng ta là Abraham. Vì ta bảo cho các ngươi hay: Thiên Chúa quyền năng có thể khiến những hòn đá trở nên con cái Abraham. Đây cái rìu đã để sẵn dưới gốc cây. Cây nào không sinh trái tốt, sẽ phải chặt đi và bỏ vào lửa. Phần tôi, tôi lấy nước mà rửa các ngươi, để các ngươi được lòng sám hối; còn Đấng sẽ đến sau tôi có quyền năng hơn tôi và tôi không đáng xách giày Người. Chính Đấng ấy sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Ngài cầm nia trong tay mà sảy lúa của Ngài, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt”.
Suy Niệm 1: ƠN CỨU ĐỘ DÀNH CHO MỌI NGƯỜI, MỌI NƯỚC, MỌI DÂN
Trên thế giới, có lẽ người Việt Nam của thời nay là mạnh miệng nhất trong việc hô khẩu hiệu tự hào dân tộc, khi vớ được những thành tích (nhiều khi rất vớ vẩn) nào đó. Nào là “tự hào quá Việt Nam ơi”, nào là “Việt Nam mãi đỉnh”!… Người tỉnh táo sẽ nhận ra những tiếng gào thét ấy chủ yếu là tự ru ngủ mình.
Trong khi đó, nếu có một dân tộc nào đáng cảm thấy tự hào về chính mình trước hết, thì có lẽ đó nên là dân Do thái. Không phải vì người Do thái giỏi giang khoa học, quân sự hay kinh doanh này nọ…, mà trước hết bởi vì họ là dân được Chúa chọn cho kế hoạch phổ quát của Chúa! Thiên Chúa đã muốn ‘làm việc’ với toàn nhân loại qua dân này; Đấng Cứu Độ đã đến trong lịch sử của dân này.
Trong thực tế, thời Cựu Ước dân Do thái đã từng tự hào – song đó là niềm tự hào đậm chất kiêu ngạo, hãnh thắng, tách mình khỏi người khác và coi thường người khác… Chúa Giêsu đến, Người đã ‘rút tấm thảm’ tự hào ấy ra khỏi chân họ. Người mặc khải sự thật rằng Người đến để cứu rỗi mọi người, mọi dân nước. Người qui tụ muôn dân nước về một mối, chứ không phân biệt. Và đó là điều Thiên Chúa muốn. Lời Chúa của Chúa nhật 2 Mùa Vọng hôm nay trao cho ta ánh sáng để nhận thức tính phổ quát ấy của ơn cứu độ. Ta ghi nhận:
-Bài đọc 1 (Is 11,1-10): “Ngày ấy gốc Giêsê đứng lên như cờ hiệu cho MUÔN DÂN. Các dân sẽ khẩn cầu Ngài, và nơi Ngài ngự sẽ rực rỡ vinh quang”.
-Đáp ca (Tv 71): “Người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái ĐẾN TẬN CÙNG TRÁI ĐẤT… Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người cho tới khi mặt trăng không còn chiếu sáng”…
-Bài Tin Mừng (Mt 3,1-12): “Hỡi nòi rắn độc… Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối. CHỚ TỰ PHỤ nghĩ rằng: tổ tiên chúng ta là Abraham. Vì ta bảo cho các ngươi hay: Thiên Chúa quyền năng có thể KHIẾN NHỮNG HÒN ĐÁ TRỞ NÊN CON CÁI ABRAHAM”…
-Bài đọc 2 (Rm 15,4-9): “Để chứng tỏ sự chân thật của Thiên Chúa, Ðức Giêsu Kitô đã phục vụ những người chịu phép cắt bì, hầu xác nhận lời hứa cùng các tổ phụ. CÒN DÂN NGOẠI, HỌ TÔN THỜ THIÊN CHÚA vì lòng nhân từ Người, như lời chép rằng: ‘Vì vậy, lạy Chúa, con sẽ cao rao Chúa và sẽ ca tụng danh Chúa giữa các dân ngoại’”.
Vậy thì… mọi tự hào có tính qui ngã, ‘ta đây’ sẽ trở thành vô duyên! Chẳng có người nào, nước nào, dân tộc nào sở hữu Thiên Chúa và Đấng Mêsia của Ngài làm của riêng mình. Tình thương và ơn cứu độ của Chúa đủ lớn để bao trùm và chứa đựng tất cả.
Và để cho phép tình thương và ơn cứu độ của Chúa bao trùm và chứa đựng mình, trước hết chúng ta phải hưởng ứng sứ điệp của Gioan Tẩy giả, vị ngôn sứ mở đường của Chúa:
“Hãy ăn năn thống hối, vì Nước Trời đã đến gần”!
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
…………………………….
Suy Niệm 2: HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA
A. DẪN NHẬP
Chúa nhật II Mùa Vọng hôm nay cho thấy một vương quốc lý tưởng Đức Kitô thiết lập trên trần gian cho hết mọi người. Nhưng Ngài cũng cho biết là không phải ai cũng được vào đâu. Muốn vào thì phải chấp nhận và chu tòan một số những điều kiện. Thánh Gioan Tẩy giả được sai đến rao giảng cho dân chúng phép rửa sám hối và Tin mừng Nước Trời :”Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”(Mt 3,1). Ông giới thiệu cho họ Đấng Thiên Sai sẽ đến và khuyến khích họ hãy dọn đường để chuẩn bị đón Ngài vì thời gian gấp rút :”Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối ngay thẳng để Ngài đi”(Mt 3,3).
Theo thánh Gioan Tẩy giả, dọn đường chính là sám hối, là khử trừ mọi tội lỗi, canh tân đời sống và quay trở về với Chúa. Sám hối đây là một cuộc thay đổi tòan diện trong tư tưởng, trong hành động, trong việc làm, một hướng đi, một đời sống mới. Ta chỉ trở lại thật sự khi ta quyết định đổi cả não trạng, cả nguyên tắc cuộc sống và đem ra thực hành trong việc làm. Việc sám hối này phải được mọi người thực hiện vì ai cũng đã phạm tội; còn những ai nói mình không cần phải sám hối là những kẻ không biết con người thật của mình, chỉ là những người cố chấp đi sâu vào con đường tội lỗi.
Theo thánh Phaolô trong bài đọc 2, sám hối cũng còn là phải đi đến với mọi người theo gương Đức Kitô đến trần gian để cứu hết mọi người. Hết mọi thành phần trong cộng đòan, cách riêng cộng đòan Rôma, phải đối xử tốt với nhau, phải nhất trí trong tình yêu thương, tránh mọi chia rẽ, phải biết thông cảm với nhau, không phân biệt họ là ai, giầu nghèo, sang hèn. Để mừng lễ Chúa Giáng sinh, chúng ta hãy thực hiện lời Chúa phán:”Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ…”.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Is 11,1-10
Tiên tri Isaia xuất hiện vào thế kỷ thứ 8 trước công nguyên đang khi dân Do thái chán chường về những ông vua đang cai trị . Họ bỏ bê việc cai trị, chỉ lo vinh thân phì gia, làm cho xã hội xuống cấp trầm trọng : xã hội đầy dẫy những bất công, luân lý suy đồi, đời sống tôn giáo sa sút, nguội lạnh.
Trước cái tâm trạng thất vọng của mọi người, tiên tri Isaia loan báo cho họ biết Thiên Chúa sẽ sai Đấng Messia đến thiết lập Nước Thiên Chúa. Bằng những lời lẽ trữ tình, ông đã mô tả con người Đấng Messia với những đức tính rất đặc biệt và phong phú. Đấng ấy sẽ sinh ra từ gốc tổ Giêsse là cha của Đavít. Ngài sẽ xét xử công minh, bênh vực những kẻ hiền lành và trị tội những kẻ áp bức. Trong nước mà Đấng Messia sẽ thiết lập, dân chúng sẽ được sống trong công bình và chân lý, trong hạnh phúc và trong hòa bình thịnh vượng.
+ Bài đọc 2 : Rm 15,4-9
Thánh Phaolô giới thiệu cho chúng ta : Đấng Messia mà tiên tri Isaia đã loan báo trước, Đấng ấy chính là Đức Giêsu, Đấng sẽ đến thiết lập Nước Thiên Chúa, đây chính là Giáo hội.
Lúc ấy, cộng đòan tín hữu đầu tiên ở Rôma gồm nhiều người đến từ nhiều nơi khác nhau. Vì thế, khó mà thông cảm và giữ được mối đồng tâm nhất trí với nhau. Do đó, thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Rôma là những công dân trong Nước Chúa, hãy noi gương Đức Kitô – Đấng đến cứu chuộc mọi người không phân biệt họ là ai, giầu nghèo – mà thực hiện được tinh thần hiệp nhất là thông cảm với nhau, tiếp nhận nhau và phục vụ nhau trong tinh thần yêu thương.
+ Bài Tin mừng : Mt 3,1-12
Gioan Tẩy giả xuất hiện cùng thời với Đức Giêsu. Ngài cho dân chúng biết : Đấng Messia mà tiên tri Isaia loan báo cách đây 8 thế kỷ sắp đến rồi. Ngài lặp lại lời tiên tri Isaia đã loan báo xưa :”Hãy dọn đường cho Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng”. Theo ngài, dọn đường cho Chúa đến là sám hối, mà sám hối bằng hai cách :
- a) Phải từ bỏ tội lỗi, chính tội lỗi đã làm cho ta xa cách Chúa, để từ đó, chúng ta đã đi lạc đường, mà từ bỏ tội lối là quay trở về cùng Chúa.
- b) Phải làm việc lành cho xứng với lòng sám hối ấy. Thánh Gioan Tẩy giả đã làm gương trước về đời sống khắc khổ : ngài vào hoang địa, mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và mật ong rừng. Ngòai ra, hãy hạ mình khiêm nhường trước mặt Chúa, nhận mình là người tội lỗi, chớ tự phụ cho mình là con cháu Abraham mà cứng lòng.C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Anh em hãy sám hối
I. HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA.
- Lời rao giảng của ông Gioan Tẩy giả
Mở đầu bài Tin mừng hôm nay, thánh Matthêu đã viết :”Hồi ấy, ông Gioan đến rao giảng trong hoang địa miền Giuđê rằng:”Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,1). Tại sao tiếng hô lại được cất lên trong hoang địa mà không phải là thành thị, phố xá hay phòng trà, nơi người ta đang quây quần đông đúc hay vui chơi tội lỗi ? Tiếng hô phải được cất lên chính những nơi này mới có người nghe, mới có kẻ hưởng ứng, sửa đường bạt lối, làm nên nẻo chính đường ngay cho Đấng Thiên Sai chứ ?
Thế nhưng lời hô của ngài vẫn được người ta hưởng ứng vì “Hữu xạ tự nhiên hương” chăng ? Có lẽ lý do chính là ngài chỉ nói sau khi đã làm, hay là đã sống, đã kinh nghiệm rồi mới nói. Quả thực, chính Gioan đã ăn năn sám hối trước, ngài đã vào trong hoang địa để ăn chay hãm mình. Trong những năm tháng ở đây, ngài đã thực sự ăn năn và sống với Chúa mỗi ngày. Những ngày tháng cô đơn, buồn tẻ của hoang địa đã tinh luyện ngài thành con người hữu ích và hữu dụng cho Nước Trời. Chính kinh nghiệm đời sống khắc khổ của hoang địa đã làm ngài trưởng thành và kinh nghiệm mà hướng dẫn được người khác. Bí quyết thành công của đời ngài là làm rồi hãy nói, việc làm không mâu thuẫn với lời nói và lời nói không mâu thuẫn với việc làm. Đó là bí quyết để sống và truyền sức sống sang cho người khác.
- Lời rao giảng được hưởng ứng
Tin mừng còn cho biết tiếp:”Bấy giờ, người ta từ Giêrusalem và khắp miền Giuđê, cùng khắp vùng ven sông Giorđan, kéo đến với ông”(Mt 3,5). Điều này chứng tỏ người ta nhiệt liệt hưởng ứng lời rao giảng của ông Gioan. Chúng ta có thể đưa ra hai lý do làm cho lời rao giảng của ông Gioan được đón nhận một cách tích cực : Sự vắng bóng của các tiên tri một thời gian dài và tình cảnh bi đát của người Do thái.
a) Sự vắng bóng các tiên tri
Sự xuất hiện của Gioan giống như tiếng nói của Thiên Chúa thình lình vang lên. Lúc bấy giờ người Do thái buồn bã nghĩ rằng tiếng nói của các tiên tri không còn nữa. Trải qua 400 năm không còn tiên tri nào, suốt 4 thế kỳ dài đằng đẵng, tiếng nói của tiên tri hòan tòan yên lặng. Nhưng trong ông Gioan tiếng nói tiên tri lại đang vang lên. Vậy đặc diểm của sứ điệp Gioan rao giảng là gỉ ? Trong tất cả các lời rao giảng của Gioan, điều đòi hỏi cơ bản là : Sám hối. Đó cũng là sứ điệp căn bản của Đức Giêsu :”Các ngươi hãy sám hối và tin vào Tin mừng”.
b) Tình cảnh bi đát của người Do thái
Sứ điệp đã làm cho dân chúng hài lòng muốn nghe, vì từ bao nhiêu thế kỷ, họ bị đặt dưới ách thống trị của các quyền lực ngọai bang là người Ba tư, người Ai cập, người Syria, và người La mã. Mặc dầu bị ức hiếp, dân chúng vẫn hy vọng, Chúa sẽ không bỏ rơi họ.
Họ mong đợi một anh hùng giải phóng dân tộc, mong đợi một kỷ nguyên mới. Họ mong đợi Đấng Cứu thế sẽ đến. Đấng Cứu thế họ tin là một người lỗi lạc, siêu quần bạt chúng. Ngài sẽ phục hưng nền độc lập quốc gia, sẽ mở rộng bờ cõi, và đó là kỷ nguyên hòa bình hạnh phúc. Đó là thời đại vàng son, thời đại vô cùng phồn thịnh về vật chất cũng như tinh thần.
Tóm lại, uy tín của Gioan đã lan rộng khắp vùng. Điệp khúc của Gioan rao giảng là hãy sửa đổi đời sống để đón Chúa đến. Sử gia Joseph Flavius đã ghi rằng :”Gioan có ảnh hưởng sâu đậm trên quần chúng, đến nỗi họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì ông răn bảo”. Hết mọi hạng người đến gặp ông để xin ông chỉ dạy cách sống.
- Lời rao giảng bị từ chối
Trong số những người đến với ông, theo thánh Matthêu, cũng có cả những người biệt phái và những người sađucêu đến chịu phép rửa rất đông. Tuy hòan tòan đối lập nhau, hai nhóm tôn giáo này cũng có mặt ở đây, cùng đi về sông Giorđan theo lời kêu gọi của ông, cũng như chẳng bao lâu sau, họ cùng liên minh với nhau để bắt bẻ Đức Giêsu.
Thấy họ là những người giả hình, có ý đồ xấu, Gioan đã thẳng thừng cảnh cáo họ :”Đừng tưởng có thể bảo mình rằng :”Chúng ta đã có tổ phụ Abraham”. Vì, tôi nói cho các ông hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Abraham, cho nên “hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối” vì “cái rìu đã đặt sát gốc cây : bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa”.
II. DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA LÀ SÁM HỐI
- Sám hối là gì ?
Từ ngữ Do thái dùng để chỉ sự sám hối có ý nghĩa sâu sắc. Đó là danh từ của động từ có nghĩa là “quay lại”. Sám hối là từ bỏ điều dữ và quay lại cùng Thiên Chúa, thay đổi cách ăn nết ở, cải tạo đời sống luân lý của tòan dân tộc hoặc của cá nhân.
Học giả Monteflore đã viết:”Đối với các rabbi, bản chất của sám hối là ở chỗ hòan tòan thay đổi tâm trí, từ đó đem lại sự thay đổi trong cuộc sống và trong cách cư xử”.
Maimonide, một học giả Do thái danh tiếng trong thời trung cổ, định nghĩa sự sám hối như sau : “Sám hối là gì ? Là tội nhân lìa bỏ tội và khai trừ nó ra khỏi tư tưởng mình, hòan tòan quyết định trong tâm trí sẽ không tái phạm nữa như có lời chép rằng :”Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng của nó”.
Sám hối, theo tiếng Hy lạp là “Metanoia” có nghĩa là “thay đổi” = meta… não trạng = noia. Như vậy sám hối có nghĩa là sự đổi mới của con người từ trong con người, từ trong tâm hồn, biểu lộ qua ngôn ngữ và hành vi. Không phải chỉ như người bộ hành xoay mặt ngó lui thấy mình đi lầm đường rồi thôi, mà phải đi trở lại để đi vào đúng con đường chính.
Sám hối không phải chỉ là công việc của cá nhân mà là của cả Giáo hội. Đức Thánh Cha Phaolô VI là vị Giáo hòang đầu tiên thay mặt Hội thánh bầy tỏ lòng sám hối :”Nếu có lỗi lầm nào về sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là do lỗi lầm của chúng tôi, chúng tôi thành thật xin Chúa tha thứ và chúng tôi xin anh chị em bị xúc phạm tha thứ cho chúng tôi”.
Đặc biệt, trước ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã liệt kê rất nhiều lỗi lầm của Giáo hội trong hai thiên niên kỷ qua. Ngài đã công khai cử hành nghi thức Sám hối và xin tha thứ hôm 12 tháng 3 năm 2000.
- Những ai cần phải sám hối ?
Mọi người cần phải sám hối, không trừ ai vì mọi người đã phạm tội, mà phạm tội là đi lạc đường, đã lạc đường thì cần phải quay lại con đường chính. Quay trở lại con đường công chính là Sám hối. Sám hối đòi hỏi một cuộc đổi mới tòan diện. Sám hối bắt đầu bằng một tác động khiêm nhường, một việc nhận thức rằng mình mắc tội, và việc quyết định trở về với Chúa.
Cái ngăn trở lớn cho việc sám hối là “không biết mình”. Điều kiện của sám hối là con người phải tự biết mình, biết rõ chân tướng con người của mình.
Nhà hiền triết Socrate đã khởi đầu triết thuyết của mình bằng câu châm ngôn “Anh hãy tự biết mình” (Connais-toi, toi même) vì không biết mình thì không tiến bộ được.
Tục ngữ Việt nam cũng có câu :”Vô tri bất mộ:”: không biết thì không mộ mến.
Trong binh pháp của Tôn Tử, muốn chiến thắng được đối phương, người ta phải thực hiện lời khuyên của ông :”Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng” : biết mình biết người thì trăm trận trăm thắng.
Biết mình có tội là khởi đầu của một sự tiến bộ, nếu không biết mình thì còn làm ăn gì được ! Vậy cần phải biết mình yếu đưối, hay sa ngã, cần phải ăn năn trở lại. Thánh Kinh nói :”Người lành thánh có thể sa ngã mỗi ngày 7 lần”(Cn 24,16).
Nói khác đi, con người trở nên yếu đuối vì tội tổ tông và tội riêng mình, nên sa ngã là điều tất yếu, bình thường. Nhưng Thánh Kinh lại viết tiếp :”(Sau 7 lần sa ngã) người lành thánh ấy lại chỗi dậy ngay”(Cn 24,16). Đúng như tục ngữ Việt nam nói :”Không ai có thể nắm tay đến tối, gối đầu đến sáng được”.
Truyện : Nhìn thấy mặt thật của mình.
Một linh mục nọ có một sáng kiến rất ngộ nghĩnh để đánh động giáo dân trong xứ. Một hôm sáng Chúa nhật nọ, giáo dân bỗng nghe một lời rao bảo như sau :”Một nhân vật tên tuổi trong giáo xứ vừa qua đời, tang lễ sẽ được cử hành vào lúc 9 giờ sáng thứ tư tới”. Nghe lời rao bảo, cả xứ nhốn nháo lên. Người nào cũng muốn biết con người quan trọng đó là ai.
Đúng ngày tang lễ, mọi người trong giáo xứ nườm nượp tuốn đến nhà thờ. Người ta đến không để cầu nguyện cho người quá cố cho bằng để nhìn mặt lần cuối cùng con người mà ai cũng muốn biết.
Sau Thánh lễ, vị linh mục đến mở nắp quan tài để cho mọi người đến chào lời từ biệt lần cuối cùng. Ai cũng sắp hàng để nhìn cho kỳ được người chết. Nhưng ai nấy đều ngạc nhiên, bởi vì thay cho thi hài người chết, mọi người chỉ nhìn thấy trong quan tài một tấm gương. Và dĩ nhiên, khi cúi nhìn vào quan tài mọi người chỉ nhìn thấy dung nhan của mình mà thôi.
Sau đó linh mục giải thích :”Con người mà anh chị em nhìn thấy trong quan tài không ai khác hơn là chính mọi người trong chúng ta. Vâng, đúng thế, thưa anh chị em, mọi người trong chúng ta cần phải mai táng chính mình…”.
Ai trong chúng ta không cần sám hối ? Chỉ những ai không bao giờ phạm tội mới không cần sám hối. Nhưng ai dám nói là mình chưa bao giờ phạm tội ? Không ai dám khẳng định mình là người không có tội; nói như thế, theo thánh Gioan, thì đó là những kẻ nói dối. Mà đã phạm tội thì cần phải ăn năn trở lại :
“Một lần nói dối, sám hối 7 ngày”
(Tục ngữ)
Xưa nay cũng có một số người dám nói rằng mình chẳng có tội gì hết vì họ cho rằng họ không trộm cướp, không ngọai tình, không giết người, không làm chứng dối, không bỏ lễ ngày Chúa nhật… Tuy nhiên, nếu đi sâu vào tâm hồn, thì mỗi người càng cần sám hối, mỗi người cần loại bỏ những rác rưởi trong linh hồn. Lời kêu gọi sám hối trong Tin mừng phù hợp cho mọi thời đại, mọi hòan cảnh, mọi lớp người.
Trả lời cho những người nói là mình không có tội, không cần sám hối thì cha Lacordaire, một nhà giảng thuyết trứ danh của Pháp, đã nói cho họ :”Tổ tông chúng ta đã phạm tội, cha ông chúng ta đã phạm tội, thì tại sao chúng ta lại thanh sạch đến thế ? Chớ thì con cái lại khôn hơn ông bà cha mẹ ư ? Kẻ nói mình không có tội là người có tội – có tội vì nói dối – có tội vì kiêu ngạo. Kiêu ngạo và nói dối mà không có tội gì, thì thế nào mới là có tội”?
Truyện : Tẩy xóa vết xâm trên mình.
Một nhà báo Mỹ có đưa ra một chương trình ngồ ngộ liên quan đến việc tẩy xóa các vết xâm trên mình, mà người ta không còn muốn để nữa, đặc biệt là các vết xâm của băng nhóm nọ trên khắp thân thể các bạn trẻ, có những hình xâm không thể chấp nhận được. Bài báo vừa xuất hiện, ai nấy đều ngạc nhiên khi thấy trên cả ngàn lá thư của các bạn trẻ trên tòan quốc gửi tới yêu cầu cho biết thêm chi tiết về chương trình trên.
Để đáp ứng sự nhiệt tình trên, người ta cho sản xuất một cuốn phim nhan đề “Untattoo You” (Hãy tẩy xóa các vết xâm của bạn đi). Cuốn phim kể lại những nguy hiểm của tục xâm mình và cho biết rõ những vết xâm ấy khó tẩy xóa biết bao. Các diễn viên trong phim là chính đám người trẻ. Họ thẳng thắn trình bầy lý do tại sao trước đây họ xâm mình, và tại sao bây giờ họ lại muốn tẩy xóa những vết xâm ấy đi.
Cuốn phim trên đã đọat được giải thưởng quốc gia và hiện được trình chiếu trên tòan quốc (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 12-13).
Cuốn phim này làm cho người ta phải suy nghĩ và rút ra được kết luận : câu chuyện đàng sau cuốn phim Untattoo You làm nổi bật lên một chủ điểm quan trọng, đó là tất cả chúng ta đã gây ra những điều mà giờ đây chúng ta hối tiếc và muốn tẩy xóa đi. Chúng ta muốn rút lại những điều lầm lỡ đã qua, muốn tẩy xóa đi cả một dĩ vãng đen tối để tiến sang một tương lai huy hòang.
Công đồng Vatican II trong Hiến chế về Phụng vụ có khẳng định :”Giáo hội rao giảng Tin mừng cứu độ cho dân ngọai để họ nhận biết và thờ phượng Thiên Chúa, và cải tạo đời sống”. Tuy nhiên, Công đồng cũng xác nhận trong cùng một văn kiện là “đối với những người đã tin, Giáo hội cũng tiếp tục rao giảng đức tin và sám hối”.
- Sám hối và quyết tâm chừa cải
Trong Huấn ca, con của Sirach viết : Đừng nói “Tôi phạm tội, có việc gì xẩy đến cho tôi đâu” ? Vì Chúa là Đấng khoan nhân. Đừng dại dột tin vào của lễ chuộc tội, rồi cứ tiếp tục thâm vào tội, và đừng nói “Thiên Chúa giầu lòng thương xót, Ngài sẽ tha thứ vô số tội lỗi cho tôi”, vì Ngài là Thiên Chúa của tình thương lẫn của thịnh nộ, Ngài sẽ giáng thịnh nộ trên kẻ phạm tội. Đừng trì hoãn việc trở lại cùng Chúa và đừng lần lữa ngày này qua ngày khác”(Hc 5,4-7).
Tác giả viết tiếp :”Một người đụng đến xác chết bị ô uế đi tắm rửa có ích gì ? Cũng vậy, một người kiêng ăn vì đã phạm tội nhưng lại tái phạm thì ai sẽ nghe lời cầu xin của kẻ ấy ? Kiêng ăn và hãm mình của người ấy có ích gì”(Hc 34,25).
Người Do thái chủ trương sự ăn năn thật không chỉ biểu hiện bằng một cảm xúc buồn thảm mà thật sự thay đổi đời sống. Đây cũng là quan điểm của người Kitô hữu. Người Do thái chủ trương kết quả chứng minh cho sự ăn năn thật, người Kitô hữu cũng thế.
Truyện : Hoạ sĩ Leonardo da Vinci.
Trong khi thực hiện bức họa nổi tiếng “Bữa tiệc cuối cùng”. Leonardo da Vinci đã cãi vã với một người bạn. Ông mắng nhiếc người bạn với những lời gay gắt và những cử chỉ dọa nạt. Khi cuộc cãi cọ đã qua, ông trở lại công việc đang làm là vẽ khuôn mặt Chúa Giêsu. Ông không thể vẽ được một nét. Cuối cùng, ông nhận ra được sự lo lắng phiền lòng. Ông liền bỏ bút vẽ đấy, đi tìm người bạn mà ông đã xúc phạm, và xin người ấy tha thứ cho mình, thế rồi ông trở về xưởng vẽ và bình tĩnh vẽ khuôn mặt Chúa Giêsu (Arthur Tonne, Bài giảng Tin mừng Chúa nhật năm A, tr 7-8).
III. THỰC HÀNH TINH THẦN SÁM HỐI
- Hãy dọn đường cho Chúa
Ý tưởng chính của lời Chúa hôm nay là “Dọn đường”. Tiên tri Isaia cho biết mục đích của việc dọn đường là “để Chúa đi”. Đi đâu ? Đi đến với con người, cụ thể là đến với mọi người chúng ta. Gioan Tiền hô kêu gọi thính giả dọn mình bằng cách sám hối và giới thiệu Chúa Kitô cho người khác.
Theo Đức Giáo hòang Gioan Phaolô II thì “Con người là con đường của Giáo hội”. Muốn dọn đường cho Chúa là phải làm cho con người nên tốt hơn, con đường xứng đáng để Chúa đi qua. Vì thế có nhiều con đường, ta thử suy nghĩ về mấy con đường cần phải sửa lại :
. Có những con đường chăng dây kẽm gai : con đường của những kẻ thù hận nhau, nó ngăn chận những tương giao qua lại.
. Có những con đường đầy ổ phục kích : con đường của những kẻ cạnh tranh nhau, chờ cơ hội để khai thác nhau, lợi dụng nhau, làm hại nhau.
. Có những con đường u tối : con đường của những kẻ lọc lừa, gian dối.
. Có những con đường quanh co trong rừng rậm : con đường của những kẻ lén lút sống trong vòng tội lỗi.
. Có những con đường gồ ghề lồi lõm : con đường của những kẻ mang một tật xấu thâm căn cố đế, hoặc kiêu căng, hoặc hà tiện, hoặc đam mê sắc dục.
. Có những con đường cỏ dại mọc đầy : con đường của những kẻ không vướng mắc tội nặng nhưng còn rất nhiều tội nhẹ.
. Có những con đường cát nóng : con đường của những kẻ khô khan việc đạo.
. Và có những con đường cái quan thẳng tắp : con đường bình an của những kẻ đạo hạnh, ngày càng tiến nhanh về Chúa.
Cuộc đời mỗi người chúng ta là một con đường : con đường hai chiều đưa ta đến với Chúa và Chúa đến với ta, hay đưa ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.
Đó chính là con đường mà Chúa Giáng sinh muốn đi, đi để đến với ta, và qua ta đến với tha nhân : đến để mang cho ta và cho anh em ta muôn ơn lành : ơn bình an, ơn hạnh phúc, ơn đạo hạnh (Trích Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ A, tr 25-26).
- Hãy dọn lòng mừng lễ Giáng sinh
Chúng ta đã biết dọn đường cho Chúa đến tức là dọn lòng chúng ta cho xứng đáng, mà theo thánh Gioan Tẩy giả, dọn đường chính là sám hối là hóan cải. Hóan cải từ nội tâm để rồi vươn tới tha nhân. Có nghĩa là từ bỏ những định kiến, lòng ích kỷ, những tính tóan lấy cái tôi làm tiêu chuẩn, sự chạy theo những quyền lợi có thể là mang dáng dấp thiêng liêng đấy, nhưng lại chẳng có chút dấu vết của Tin mừng. Từ bỏ những cái đó để bước vào con đường yêu thương và phục vụ anh em.
Để dọn lòng mừng lễ Chúa Giáng sinh, một cách cụ thể, người Công giáo chúng ta có một phương thế đặc biệt để thống hối, đó là Bí tích Cáo giải, và những người Công giáo đích thực sẽ nỗ lực sử dụng phương thế thống hối trước lễ Giáng Sinh. Sự xưng tội không chỉ là tẩy trừ tội lỗi, nó còn đem lại cho chúng ta phục vụ Chúa một cách chân thành hơn. Hãy đi thanh tẩy tâm hồn trong tòa cáo giải để dọn lòng đón Chúa đến trong ngày lễ Giáng sinh.
Truyện : Làm gì để đón tiếp Chúa.
Alphonse vừa là một hiền triết vừa là vua xứ Aragon, nổi tiếng vì có lòng đạo đức và lối sống một Kitô hữu gương mẫu. Một hôm, trước lễ Noel ít ngày, đến thăm một hiệp sĩ Tây ban nha. Hiệp sĩ này đã dành cho nhà vua một cuộc đón tiếp nồng hậu, chu đáo hết mức. Tuy nhiên có một điều không hay là hiệp sĩ này xưa nay vẫn mang tiếng xấu vì lối sống bê tha sa đọa của ông đến nỗi ai cũng chê bai xa tránh. Biết thế, nên trước khi chia tay ra về, nhà vua mới nói những lời thân tình như sau :”Hỡi hiệp sĩ quí phái ! Ông đã dành cho ta một cuộc đón tiếp đầy vinh dự và huy hòang. Nhưng ít ngày tới đây, Vua các vua sẽ đến và Ngài muốn cử hành lễ Noel tại nhà ông. Chính vì thế mà khi đón tiếp Ngài, ông hãy cố gắng trang trí sửa sọan tâm hồn ông như ông đã trang hòang dọn dẹp lâu đài của ông hôm nay để đón tiếp ta”.
Năm ấy, Noel trở thành lễ long trọng của nhà hiệp sĩ để đón tiếp cuộc viếng thăm của Thiên Chúa (Quê Ngọc, Dấu ấn tình yêu, năm A, tr 3).
Chúng ta sẽ làm gì để đón tiếp Chúa Hài Đồng trong ngày Giáng sinh ? Có lẽ những lời khuyên khôn ngoan trên đây của vua Anphonse cũng như những lời tha thiết kêu mời của thánh Gioan trong bài Tin mừng hôm nay đều mang cùng một ý nghĩa vừa cấp bách cảnh cáo vừa tha thiết kêu mời mỗi người chúng ta phải mau mắn bắt tay làm một cái gì đó, phải khéo léo sửa sọan như thế nào đây để đón tiếp thật xứng đáng, thật chu đáo cuộc viếng thăm của Ngôi Hai đến cung lòng mỗi người chúng ta.
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt
……………………………..
Suy Niệm 3: Hãy sám hối ăn năn
Thế giới đang chuẩn bị một trang sử mới. Mọi công sở đều lo tính sổ sách. Nhiều người đưa ra những dự đoán cho năm mới. Báo chí, truyền hình làm thống kê, thường đề cập tới những chuyện không may trong thời gian qua: nơi này phong ba bão tố; nơi kia hạn hán mất mùa, chiến tranh. Ngoài những tai nạn xe cộ, còn có tai nạn máy bay, thậm chí còn đụng nhau trên bầu trời bao la nữa! Sắp tận thế chăng? Khắp nơi đều cho thấy những dấu hiệu bất ổn về mọi phương diện, nhất là về an ninh và kinh tế. Nhưng nhiệm vụ của chúng ta không phải là ngồi cắt nghĩa điềm thiêng dấu lạ, mà là giữa một thế giới hỗn độn chúng ta sáng suốt nhận ra dấu chỉ của thời đại và lời kêu gọi sám hối ăn năn. Tất cả đều tùy thuộc vào đó.
Năm xưa, Gioan Tẩy giả đã xuất hiện trong một hoàn cảnh cụ thể. Ông được kêu gọi và sai đến với dân Do thái. Sứ mạng của ông luôn gắn liền với khởi điểm của cuộc đời công khai của Đức Giêsu. Điều này được tất cả bốn tác giả Phúc âm nói đến. Sứ mạng của Gioan được thánh Mátthêu trình bày tóm tắt qua bài Phúc âm chúa nhật hôm nay. Ngài nhấn mạnh tới lời kêu gọi sám hối ăn năn hơn là phép Rửa. Có thể nói, phép Rửa của Gioan Tẩy giả là dấu chỉ dành cho những người đã nhận biết lỗi lầm của mình, đồng thời sẵn sàng sám hối ăn năn.
Sám hối trước hết là từ bỏ nếp sống giả hình, nếp sống “khẩu phật tâm xà”: môi miệng đọc hết kinh này sang kinh khác nhưng lòng dạ đầy những toan tính xấu xa; ngoài xã hội thì khuyên người khác ăn ngay ở lành còn riêng mình thì lại sống bê tha, khuyên mọi người hãy thương mến nhau nhưng sau lưng thì toàn đi nói xấu kẻ khác!
Sám hối có nghĩa là từ bỏ những hình thức suy tôn tạo vật, những hình thức ỷ lại vào danh vọng, tiền tài. Đừng nghĩ rằng đậu được bằng bác sĩ kỹ sư, làm ông nọ bà kia, thì tự cho rằng mình là bậc thông thái, biết hết mọi chuyện. Đừng nghĩ rằng mình sinh ra trong một gia đình giầu có, muốn gì cũng được. Đừng nghĩ rằng mình là con nhà gia giáo, là con ông cháu cha, có quyền sống sang chảnh, ngồi xét đoán kẻ khác. Giống như thái độ kiêu căng tư phụ của dân Do thái xưa: Họ nhìn đời bằng nửa con mắt, vênh vang tự đắc, khinh khi người khác vì nghĩ rằng mình là con cháu Ápraham.
Sám hối không có nghĩa chỉ là nhìn nhận lỗi lầm của mình nhưng còn phải đi xa hơn một bước nữa. Sám hối phải dẫn tới việc sửa đổi đời sống như Gioan đã nói: “Hãy làm việc lành cho xứng với lòng sám hối”, và cụ thể như thánh Phaolô từng khuyên: Anh em hãy tiếp rước nhau như chính Đức Giêsu đã tiếp nhận anh em.
Sám hối ăn năn chính là ngưỡng cửa bước vào trời mới đất mới mà tiên tri Isaia đã diễn tả: sói sống chung với chiên con, beo nằm chung với dê, trẻ con măng sữa sẽ vui đùa kề hang rắn lục, … Khi vợ chồng con cái yêu thương hoà thuận với nhau, khi con người sẵn sàng trở về làm lành với Thiên Chúa thì cuộc sống sẽ trở thành một mảnh thiên đường. Chúng ta không cần phải đợi sau khi chết mới được hưởng phúc thiên đàng, nhưng ngay trong lúc này nếu như chúng ta muốn, chúng ta có thể biến cuộc sống thành thiên đường. Hạnh phúc thiên đàng có nghĩa là sự hiệp thông của con người với Thiên Chúa và giữa con cái loài người với nhau. Để có thể sám hối ăn năn, chúng ta phải nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa. Một tấm lòng hỗn độn, đầy những lo âu và tham vọng chắc chắn không thể nào nhận ra. Lời kêu gọi của Gioan Tẩy giả phát xuất từ sa mạc. Cũng vậy, chỉ khi trong tâm hồn có một chỗ trống, có nghĩa là sẵn sàng dẹp bỏ mọi lo âu bận rộn qua một bên, trở về với lòng mình trong thinh lặng, chúng ta mới nhận ra tiếng Chúa. Chính lúc đó Thánh Thần của Thiên Chúa sẽ làm việc trong chúng ta. Ngài sẽ ban cho chúng ta sự khôn ngoan và thông suốt để phân biệt đâu là công minh chính trực, đâu là gian tà, phân biệt đâu là lúa, đâu là rơm. Ngài sẽ tăng sức giúp chúng ta đạt tới đích điểm.
Lm Phêrô Trần Minh Đức
………………………….
Suy Niệm 4: Hãy chấp nhận, học hỏi lẫn nhau
Môn đăng hộ đối; Trai tài gái sắc; Nồi nào úp vung đó! Đây là những phương châm khi cha mẹ đắn đo chuẩn bị dựng vợ gả chồng cho con cái. Nhưng tương phản tương khắc thu hút nhau cũng là một định luật. Nhiều cặp vợ chồng nhìn bề ngoài giống như nước với lửa, mặt trời với mặt trăng, … nhưng lại có thể sống suốt đời suốt kiếp bên nhau: Ông chồng bảnh bao tài giỏi nhưng bà vợ thì lại như Chung Vô Diệm! Ông chồng hiền như cục đất nhưng bà vợ giống như bà chằng! Ông chồng chơi bời hư hỏng nhưng bà vợ lại tháo vát, quán xuyến! Nhiều cặp vợ chồng khi mới quen nhau thì giống như khắc khẩu, gặp đâu cãi đó nhưng cuối cùng lại lấy nhau. Đôi lúc làm cho kẻ đứng ngoài cuộc không tài nào hiểu nổi! Nhưng đây lại là những hình ảnh cực kỳ hấp dẫn nơi địa đàng mà bài đọc hôm nay mô tả: Sói ở với chiên con; Beo nằm bên dê nhỏ; Bò cái kết thân cùng gấu cái; Bé thơ chơi bên hang rắn lục , … Đồng cảnh ngộ dễ thông cảm – Âm dương thu hút nhau! Xuất thân, sở thích, tài năng có thể tùy người tùy cảnh biến hai người thành bạn hữu hay thù nghịch. Khi sống lẻ loi trên đất khách quê người chúng ta mới cảm thấy thấm thía thế nào là đồng hương, cảm thấy an ủi khi có cơ hội được nói tiếng mẹ đẻ. Đây là cảm nghiệm của bản thân tôi khi làm mục vụ cho người bản xứ. Mặt khác tôi có thể nói: Ăn trông nồi, ngồi trông hướng! Bởi vì chung quanh tôi chẳng có người Việt và vì công việc bó buộc tôi phải thích nghi với hoàn cảnh. Phong tục tập quán của người bản xứ làm cho cuộc sống của tôi thêm phần phong phú. Hội nhập không có nghĩa là bị đồng hoá! Một mặt tôi phải biết giữ gìn trân trọng nét độc đáo mà mình đã thu lượm trong quá khứ, mặt khác tôi phải tập loại bỏ những tư tưởng và nếp sống hủ lậu, mở rộng chân trời tiếp thu những gì mới mẻ, … Mọi người bình đẳng, không phân biệt giai cấp, màu da, ngôn ngữ! … Nói thì rất dễ, nhưng thực tế rất phũ phàng! Không dễ gì hiểu được lý lẽ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn!“, chi bằng Giấy cũ giữ lấy lề!“
Ai cũng muốn sống theo thói tục của mình, của quê hương xứ sở của mình. Con người tin tưởng vào kinh nghiệm và vốn liếng mà mình đã đạt được, không muốn nhẹ dạ đón nhận những gì là văn minh mới mẻ. Chối từ, giữ khoảng cách là phản ứng đầu tiên khi đối diện với người xa lạ. Có những người đã chiếm được cảm tình của tôi ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên. Có những người sống gần lâu năm nhưng tôi vẫn cảm thấy có chút gì không ổn. Thánh Phaolô không chấp nhận chúng ta đặt hàng rào ngăn cản, nại lý do này lý do nọ: “Anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Kitô đã đón nhận anh em”. Ngài không đòi phải có thành tích trước và không đặt điều kiện gì! Tôi luôn có chút thán phục và cảm động, mỗi lần đứng trước bàn thờ chứng nhận lời cam kết của cô dâu chú rể: Tôi … nhận em … làm vợ! Tôi … nhận anh … làm chồng! Lời cam kết này đòi hỏi niềm tin tưởng lẫn nhau và đầy can đảm vì chẳng ai nắm chắc tương lai sau này sẽ ra sao. Bản tính khó đổi, thói hư khó chừa! Nhưng Thiên Chúa đã tạo dựng con người và thiên phú cho mỗi người những khả năng khác biệt để con người có thể bổ xung và làm phong phú lẫn nhau. Hãy tiếp nhận nhau – bởi vì ai cũng cần đến tình thương và sự trợ giúp của kẻ khác. Người đó có thể là phần tử trong một gia đình, người cùng chung sống dưới một mái nhà, nhưng qua lời nói, cử chỉ và thái độ sẽ chứng thực kẻ đó là người lân cận hay là người xa lạ. Tiếp nhận nhau không giống như lập gia thất: nhập gia tùy tục, bắt buộc kẻ khác thích nghi, sống như mình, suy nghĩ như mình. Trong cuộc sống chung thường một nữ tu cũng chẳng có đặc quyền chọn lựa khi có bài sai mới. Tiếp nhận nhau có nghĩa là loại bỏ tất cả mọi thành kiến, chấp nhận những gì thuộc về kẻ đối diện: đức tính, tài năng, tật xấu, xuất thân, quá khứ, …
Tiếp nhận nhau – thật ra không phải là chuyện kinh thiên địa nghĩa gì! Chỉ cần một bàn tay trắng rộng mở và một con tim đầy nhiệt tình. Tiếp nhận nhau – đây lý ra phải là điều có thể giữa người Kitô hữu, bởi vì trong Giáo hội không có ai là người ngoại quốc. Niềm tin vào Đức Kitô sẽ nối kết mọi người không phân biệt ngôn ngữ, màu da, văn hoá, … Chớ gì giấc mơ hoà bình và đại đồng của tiên tri Isaia sớm thành hiện thực.
Lm Phêrô Trần Minh Đức

