Thêm

    CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN

    BÀI ĐỌC I: Is 66, 18-21

    Đây Chúa phán: “Ta đã biết các việc làm và tư tưởng của chúng; Ta đến quy tụ mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ: chúng sẽ đến và nhìn thấy vinh quang của Ta. Ta sẽ đặt nơi chúng một dấu lạ, Ta sẽ sai một số trong những người được giải thoát đến các dân ngoài biển, bên Phi châu và Lyđia, là những dân thiện xạ, đến Ý-đại-lợi và Hy-lạp, đến những hòn đảo xa xăm, đến với những kẻ chưa nghe nói về Ta, và chưa thấy vinh quang của Ta. Chúng sẽ rao giảng cho các dân biết vinh quang của Ta, sẽ dẫn tất cả anh em các ngươi từ mọi dân tộc đến như của lễ dâng cho Chúa, họ cỡi ngựa, đi xe, đi võng, cỡi la, cỡi lạc đà, đến núi thánh của Ta là Giêrusalem, khác nào con cái Israel mang của lễ trong chén tinh sạch vào nhà Chúa, Chúa phán như thế. Trong những dân đó, Ta sẽ chọn các tư tế, các thầy Lêvi: Chúa phán như vậy”. Vì chưng lời Chúa rằng: Cũng như Ta tạo thành trời mới, đất mới đứng vững trước mặt Ta thế nào, thì dòng dõi ngươi và danh tánh các ngươi sẽ vững bền như vậy”.

    BÀI ĐỌC II: Dt 12, 5-7, 11-13

    Anh em thân mến, anh em đã quên lời yên ủi tôi nói với anh em, như nói với những người con rằng: “Hỡi con, con chớ khinh thường việc Chúa sửa dạy, và đừng nản chí khi Người quở trách con; vì Chúa sửa dạy ai là kẻ Người yêu mến, và đánh đòn kẻ mà Người chọn làm con”. Trong khi được sửa dạy, anh em hãy bền chí. Thiên Chúa xử sự với anh em như con cái: vì có người con nào mà cha không sửa phạt. Ngày nay, hẳn ai cũng coi việc sửa dạy là nỗi buồn khổ, hơn là nguồn vui, nhưng sau này, nó sẽ mang lại hoa quả bình an công chính cho những ai được sửa dạy. Vì thế, anh em hãy nâng đỡ những bàn tay bủn rủn và những đầu gối rụng rời. Đường anh em đi, anh em hãy bạt cho thẳng, để người què khỏi bị trẹo chân, nhưng được an lành.

    PHÚC ÂM: Lc 13, 22-30

    Khi ấy, Chúa Giêsu rảo qua các đô thị và làng mạc, vừa giảng dạy vừa đi về Giêrusalem. Có kẻ hỏi Người rằng: “Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?” Nhưng Người phán cùng họ rằng: “Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi biết: nhiều người sẽ tìm vào mà không vào được. Khi chủ nhà đã vào và đóng cửa lại, thì lúc đó các ngươi đứng ngoài mới gõ cửa mà rằng: ‘Thưa ngài, xin mở cửa cho chúng tôi’. Chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: ‘Ta không biết các ngươi từ đâu tới’. Bấy giờ các ngươi mới nói rằng: ‘Chúng tôi đã ăn uống trước mặt ngài và ngài đã giảng dạy giữa các công trường chúng tôi’. Nhưng chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: ‘Ta không biết các ngươi tự đâu mà tới, hỡi những kẻ làm điều gian ác, hãy lui ra khỏi mặt ta’. Khi các ngươi sẽ thấy Abraham, Isaac, Giacóp và tất cả các tiên tri ở trong nước Thiên Chúa, còn các ngươi bị loại ra ngoài, nơi đó các ngươi sẽ khóc lóc nghiến răng. Và người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong nước Thiên Chúa. Phải, có những người sau hết sẽ trở nên trước hết và những người trước hết sẽ nên sau hết”.

    Suy Niệm 1: BẠN ĐANG HÀNH TRÌNH ĐI VỀ ĐÂU?

    Lời Chúa trong các bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta “chiến đấu” để thuộc về Thiên Chúa, thuộc về những người được Ngài tuyển chọn. Trong bài đọc 1, Ngôn sứ Isaia trình bày viễn cảnh mà trong đó dân ngoại được hạnh phúc trong nhà Chúa: “Ta biết rõ việc làm và ý định của chúng, Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến và được thấy vinh quang của Ta” (Is 66:18). Những lời này cho thấy tính cách phổ quát của ơn cứu độ. Tuy nhiên, để ơn cứu độ được loan báo giữa các dân tộc, Đức Chúa đặt lên giữa họ một dấu hiệu (x. Is 66:19). Dấu hiệu này ám chỉ đến sự sống sót của Giêrusalem và niềm hy vọng của những người Do Thái tản mác sống giữa dân ngoại. Một cách cụ thể hơn, những người Do Thái tản mác khắp nơi sẽ “đưa tất cả những anh em các ngươi thuộc mọi dân tộc về làm lễ phẩm tiến dâng Đức Chúa” (Is 66:20). Chi tiết này muốn nói với chúng ta rằng: mỗi người cũng được Chúa đặt lên làm “dấu hiệu” để hướng dẫn người khác đến với Chúa. Liệu chúng ta có làm được điều này không? Chúng ta đang đem người khác đến với Chúa hay đang đem họ xa Chúa?

    Thánh Phaolô trong bài đọc 2 cũng khuyến cáo chúng ta về những điều cần thiết để trở nên dấu hiệu của Chúa cho người khác. Theo Thánh Phaolô, để trở nên dấu hiệu của Thiên Chúa hay theo Thánh Luca trong bài Tin Mừng, để qua cửa hẹp mà vào, chúng ta không được quên lời khuyên nhủ sau: “Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt” (Dt 12:5-6). Điều này dường như không được mấy người thích vì tự bản chất, chúng ta cảm thấy khó chịu khi bị sửa dạy. Có thể vì tính kiêu ngạo, chúng ta không bao giờ nhận mình có lỗi. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta không nản lòng, nhất là khi phải đối diện với đau khổ và thử thách. Thánh nhân an ủi chúng ta rằng chúng ta gặp thử thách [bị Thiên Chúa sửa dạy] vì chúng ta được Thiên Chúa yêu. Điều này cũng giống như ông bà ta nói: “Thương con thì cho roi cho vọt; ghét con thì cho ngọt cho bùi.” Chúng ta là những người con của Chúa, nên Ngài cũng sửa dạy chúng ta: “Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?” (Dt 12:7). Lý do chúng ta phải kiên trì khi bị sửa dạy, vì “ngay lúc bị sửa dạy, thì chẳng ai lấy làm vui thú mà chỉ thấy buồn phiền. Nhưng sau đó, những người chịu rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính. Bởi vậy, hãy làm cho những bàn tay bủn rủn, những đầu gối rã rời, nên mạnh mẽ” (Dt 12:11-12). Việc kiên trì trong khi bị sửa dạy giúp hành trình qua cửa hẹp mà Chúa Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay trở nên dễ dàng hơn.

    Chi tiết đầu tiên mà chúng ta cần lưu ý trong bài Tin Mừng Hôm nay là việc Chúa Giêsu đang “trên đường lên Giêrusalem” (Lc 13:22). Trong Tin Mừng Thánh Luca, hành trình của Chúa Giêsu có điểm kết thúc ở Giêrusalem, nơi có Đền Thánh, là nhà Cha của Ngài. Nói cách khác, hành trình của Chúa Giêsu trên dương thế là hành trình tiến về nhà Cha. Còn hành trình mỗi người chúng ta đi đang đưa chúng ta về đâu? Đoạn trích Tin Mừng hôm nay nằm trong phần 2 những lời giáo huấn về ý nghĩa của lối sống Kitô giáo (x. Lc 13:22-17:10). Thánh Luca tiếp tục sử dụng những biểu tượng phong phú trong hành trình của Chúa Giêsu lên Giêrusalem là điểm gặp với thánh ý Thiên Chúa để hướng dẫn các môn đệ về nhiều khía cạnh khác nhau của lối sống Kitô giáo. Một cách cụ thể, đoạn trích Tin Mừng hôm nay mở đầu phần 2 với việc Chúa Giêsu một lần nữa nhấn mạnh đến nhu cầu cần sám hối để được cứu độ.

    Thánh Luca đã sử dụng nguồn Q [cho những câu 24-29] để tiếp tục đề tài sám hối được thánh sử nói đến trong các câu 3 và 5 của cùng chương 13. Tuy nhiên, Thánh Luca nhấn mạnh hơn mối tương quan giữa đời sống Kitô hữu đòi hỏi sự hoàn toàn trung thành với Chúa Giêsu và đón nhận tất cả những người khác làm bạn đồng hành trên hành trình lên Giêrusalem để được cứu độ. Đây là lý tưởng mà Thánh Luca đưa ra. Nhưng trong thực tế, có nhiều điều xảy ra trong hành trình vì nhiều người bỏ cuộc, không còn theo Chúa Giêsu [vì bị bắt bớ và chống đối], nên có người hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?” (Lc 13:23). Chúng ta thấy ở đây có sự đối nghịch giữa ý muốn của Thiên Chúa [mọi người cùng nhau hành trình lên Giêrusalem để được cứu độ] và điều con người nghĩ [chỉ ít người được cứu thoát]. Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi này cách trắng đen. Ngài mời gọi họ hãy nỗ lực vì ai cũng được mời gọi: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được” (Lc 13:24). Chúa Giêsu vẫn khẳng định có nhiều người tìm cách vào, nhưng không vào được vì cách họ dùng không đúng với cách Chúa Giêsu hướng dẫn họ.

    Chi tiết thứ hai là việc Thánh Luca sử dụng hình ảnh “cánh cửa” mà Chúa Giêsu sẽ đóng lại trước những ai thoả mãn với sự tự hào việc họ “đã từng được ăn uống trước mặt Ngài, và Ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi” (Lc 13:26). Hay nói cách khác, Chúa Giêsu khuyến cáo những người thoả mãn với việc họ “quen biết” Ngài và sứ điệp của Ngài. Chỉ ngồi ăn và uống với Ngài cách ngẫu nhiên, hay nói như chúng ta bây giờ là ngồi ăn và uống cách “bị buộc.” Chúng ta phải chia sẻ trong chính cuộc sống của Ngài, điều được hình tượng hoá qua hình ảnh Ngài chia sẻ bữa ăn với những người nghèo và bé mọn. “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!” (Lc 13:27).

    Chi tiết thứ ba là việc Chúa Giêsu dùng hình ảnh bàn tiệc cánh chung mà trong đó các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp cùng tất cả các ngôn sứ được chia sẻ trong đó cùng với thiên hạ từ đông tây nam bắc (x. Lc 13:28-29). Chi tiết này cho thấy tính cách phổ quát của bàn tiệc cánh chung trong Nước Trời điều mà Thiên Chúa muốn. Hình ảnh này trái ngược với điều mà con người thường nghĩ đến là chúng ta hay loại trừ người khác ra khỏi lòng yêu thương của Chúa và của chính mình. Như vậy, Nước Thiên Chúa được diễn tả trong hình ảnh bàn tiệc cánh chung (x. Is 25:6-8). Những ai không muốn dấn thân sống theo lối sống Chúa Giêsu đã nêu gương sẽ tìm thấy mình bị loại trừ ra bên ngoài, hay nói đúng hơn là tự loại mình ra bên ngoài, ra khỏi bàn tiệc của Thiên Chúa. Những ai không muốn ngồi vào bàn ăn với Chúa Giêsu và những người Chúa yêu, thì tự loại mình ra khỏi bàn ăn của Ngài.

    Thánh Luca kết thúc lời dạy của Chúa Giêsu với đề tài quen thuộc, đó là việc đảo ngược vị trí trong nước Thiên Chúa: “Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót” (Lc 13:30). Điều này nhắc nhở chúng ta về một thực tế trong cuộc sống, đó là việc nhiều người chúng ta muốn được chỗ nhất hoặc “đứng trước” người khác trong cuộc sống này. Tuy nhiên, những điều này không đảm bảo rằng chúng ta sẽ có chỗ nhất trong Nước Thiên Chúa. Cuộc đời con người chỉ được quyết định khi người đó ra khỏi cuộc đời này và đi vào trong cuộc sống vĩnh cửu. Như vậy, khi đi ra khỏi cuộc đời này, chúng ta sẽ như thế nào: lên hàng đầu hay xuống hàng chót? Thiên đàng hay địa ngục?

     

    ……………………………..

    Suy Niệm 2: NGƯỜI MÔN ĐỆ THỪA SAI ĐƯỢC TRAO SỨ MẠNG VÀ ĐƯỢC SỬA DẠY

    Isaia 66,18-21 là mạc khải về tầm nhìn chung cục của Thiên Chúa. Mọi dân nước sẽ được qui tụ lại, với Giêrusalem là trung tâm, vào thời của trời mới đất mới. Và Chúa qui tụ như thế bằng cách nào? Bằng cách gửi các thừa sai của Ngài đi đến các nơi để rao giảng và dẫn chư dân về một mối. Chúng ta thấy một toàn cảnh bức tranh sứ mạng của chính chúng ta ngày nay.

    Bức tranh này được Thánh vịnh 116 vẽ ra qua lời hiệu triệu: “Toàn thể chư dân, hãy khen ngợi Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người. Vì tình thương Chúa dành cho chúng tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời”… Lệnh truyền của Chúa Giêsu “Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian” được đan kết vào Thánh vịnh trên cho thấy bản chất sứ mạng thừa sai được mở ra từ Cựu ước và được xác lập rõ ràng trong Tân ước.

    Chính Chúa Giêsu nêu rõ tầm nhìn về “bữa tiệc trong Nước Thiên Chúa” được mở ra cho “người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam”, nghĩa là bao gồm hết mọi người một cách phổ quát. Nhưng điều mà Người muốn nhấn mạnh ở đây, đó là những người vốn ở trong vẫn có nguy cơ bị loại ra ngoài. Do đó, không được chủ quan, ỷ lại chút nào – như lời Chúa Giêsu cảnh cáo: “có những người sau hết sẽ trở nên trước hết và những người trước hết sẽ nên sau hết”! (x. Lc 13,22-30).

    Để tránh tình trạng đang ở trong lại bị loại ra ngoài, chúng ta phải chấp nhận để cho Chúa sửa dạy, uốn nắn mình. Đi theo Chúa và đảm nhận sứ mạng Chúa trao thì bao hàm cả những gian truân thử thách, những khốn khó trong đời, và chúng ta cần biết đón nhận với thái độ tích cực. Ta càng cần biết khiêm tốn đón nhận khi những khó khăn ấy nhằm để sửa dạy chúng ta – như lời Thư Do thái: “Hỡi con, con chớ khinh thường việc Chúa sửa dạy, và đừng nản chí khi Người quở trách con; vì Chúa sửa dạy ai là kẻ Người yêu mến, và đánh đòn kẻ mà Người chọn làm con”… (x. Dt 12,5-7.11-13).

    Tóm lại, tương lai cuối cùng mà Thiên Chúa hoạch định cho chúng ta, cho hết mọi người, thì thật huy hoàng, phấn khởi, vì đó là sự hoàn thành của Triều đại Thiên Chúa. Nhưng để đi đến đó, chúng ta phải đảm nhận sứ mạng thừa sai, mà một phần của sứ mạng này là những nhọc nhằn gian khổ có giá trị rèn luyện mà chúng ta phải đảm nhận.

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    ………………………………

    Suy Niệm 3:  HÃY VÀO QUA CỬA HẸP

    A. DẪN NHẬP

    Đức Giêsu đến trần gian mang theo sứ mạng đặc biệt là cứu rỗi mọi người không trừ ai. Sứ mạng này không phù hợp với quan niệm của người Do thái vì họ cho rằng họ là con cháu Abraham thì đương nhiên là sẽ được cứu rỗi, còn những người khác thì không. Vì thế mới có một người không biết là thành phần nào trong xã hội đã đến xin Đức Giêsu giải đáp cho mình một thắc mắc :”Thưa Thầy, những người được cứu thóat thì ít, phải không Thầy”?

     Đức Giêsu không muốn trực tiếp trả lời cho câu hỏi này vì sẽ gây nên sự hiểu lầm. Nếu  Ngài trả lời là “Đúng”, nghĩa là chỉ có ít người được cứu rỗi, thì làm cho người Do thái nghĩ rằng họ đương nhiên được ơn cứu thoát, rồi thì ỷ lại, không cần cố gắng nữa. Còn đối với những người khác thì nản lòng, vì họ có cố gắng thì cũng vô ích vì ơn cứu rỗi không được ban cho họ. Còn ngược lại, nếu Đức Giêsu đáp là “không”  nghĩa là “Ơn cứu rỗi sẽ được ban cho số đông” thì cũng làm cho họ ỷ lại, không cố gắng, bởi vì cố gắng làm chi vì mình chắc chắn được rỗi mà !

    Vì lý do trên, Đức Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi dựa trên số lượng, tức là đặc quyền của người Do thái mà chỉ vạch ra cho họ phương thế để được vào Nước Trời :”Hãy chiến đấu qua cửa hẹp mà vào” (Lc 13,24).  Theo Đức Giêsu, “Qua cửa hẹp” là phải sám hối, phải uốn nắn đời sống theo những giáo huấn của Tin mừng :”Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta”.

    Dựa theo tư tưởng của thánh Phaolô, chúng ta có thể hiểu “Qua cửa hẹp” là phải chiến đấu, cuộc chiến đấu cho đến cùng đường, phải đi vào con đường hẹp của Thập giá, phải can đảm chống lại sự lôi cuốn của ba thù, không thỏa hiệp, không nhân nhượng với chúng :”Không phải cứ kêu lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai làm theo ý cha Ta ở trên trời mới được vào”. Ước gì chúng ta đừng đến lầm cửa, đó là cửa rộng thênh thang, cửa tiền tài , sắc dục, hư danh, cửa dẫn vào cái chết muôn đời. Cũng đừng đến mà cửa đã đóng kín để không phải nghe Chúa nói :”Ta không biết các ngươi từ đâu đến”(Lc 13,27).

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    +  Bài đọc 1 : Is 66.18-21.

    Cộng đồng Giêrusalem sau cuộc lưu đầy còn gặp nhiều khó khăn. Qua vị tiên tri vô danh, mà đôi khi chúng ta gọi là Đệ tam Isaia, Thiên Chúa loan báo một cuộc qui tụ toàn thể nhân lọai về với Ngài. Giêrusalem sẽ trở nên trung tâm thế giới, các dân sẽ tựu về và dâng lễ tại đó, một điều cấm kỵ cho đến bấy giờ.

    Nhưng Israel sẽ không chịu phá bỏ rào chắn đối với dân ngọai, và Đức Giêsu đã phải trả bằng giá mạng sống mình  cho nỗ lực cho việc phụng thờ Thiên Chúa hằng sống trở thành việc phụng thờ cho mọi dân nước.

    Lời sấm này tiên báo về thời Đấng Thiên Sai sẽ đến, qui tụ muôn dân, tiêu chuẩn phân biệt duy nhất là sự thánh thiện.

    +  Bài đọc 2 : Dt 12,5-7.11-13.

    Thời đó, các Kitô hữu gốc Do thái gặp muôn vàn khó khăn từ đế quốc Rôma cũng như Do thái giáo. Thánh Phaolô khuyên nhủ họ hãy bình tĩnh và tin tưởng, vì lòng yêu thương con cái mình, Thiên Chúa dùng gian nan thử thách  để giáo dục và chữa trị họ.

    Thử thách, dù thế nào đi chăng nữa, cũng không cho phép ta  nghi ngờ tấm lòng của Thiên Chúa yêu thương chúng ta như một người cha, chẳng khác nào cha dạy con hoặc thầy nghiêm khắc sửa trị trò. Thiên Chúa đối xử với chúng ta  như con của Ngài. Ngài không phải là người cha cay nghiệt. Thiên Chúa có thương ai thì mới thử thách và sửa dạy người ấy. Vì thế họ đừng ngã lòng, trái lại hãy vui mừng vì biết mình được Chúa thương, và kiên trì chịu đựng.

    +  Bài Tin mừng : Lc 13,22-30.

    Người Do thái thắc mắc muốn hỏi Đức Giêsu số lượng những người được vào Nước Trời. Thực ra, số lượng và lý lịch của những người được vào Nước Trời thì không quan trọng, mà vấn đề quan trọng là phải cố gắng đi qua cửa hẹp mà vào.

    Bài Tin mừng hôm nay có 3 ý tưởng chính :

    a) Khung cửa thì hẹp, người muốn vào thì đông, vấn đề là phải nỗ lực.

    b) Có lúc cửa sẽ khép lại mãi mãi, vì giờ cứu độ đã hết, vấn đề là đừng trễ nải.

    c) Việc ăn Tiệc trên Nước Trời chỉ dành cho những ai thành tâm theo Chúa, không ai có thể dựa vào lý lịch, địa vị… mà nghĩ rằng mình có quyền đương nhiên được nhập tiệc.


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

    Đi qua cửa hẹp mà vào

    I. NHỮNG AI ĐƯỢC VÀO NƯỚC TRỜI ?

    1. Trên đường đi Giêrusalem

    Bài Tin mừng hôm nay nằm trong giai đoạn cuộc hành trình của Đức Giêsu tiến về Giêrusalem nhân ngày lễ Cung hiến Đền thờ. Ngài rảo qua các đô thị, làng mạc giảng dạy cho dân chúng. Ở những nơi này, Đức Giêsu giảng dạy hơn là làm phép lạ. Các đề tài được đưa ra rao giảng là : sám hối, việc cầu nguyện, sự từ bỏ, việc dân Do thái từ bỏ ơn Chúa.

    1. Một câu hỏi

    Có kẻ đến hỏi Đức Giêsu rằng :”Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít được cứu rỗi”?(Lc 13, 23). Tại sao người ta lại hỏi như vậy ? Chúng ta cần phải biết  người Do thái có quan niệm thế nào về ơn cứu độ và đặc quyền của họ về vấn đề này.

    Giáo trưởng Meir của người Do thái có viết :”Để được cứu rỗi, người ta phải cư ngụ trên đất nước Israel, nói tiếng Do thái là ngôn ngữ thánh, và sáng chiều đọc kinh Shema”. Có lẽ ý tưởng này phát xuất từ quan niệm “tự tôn chủng tộc” của một số trường phái vốn từng hiện diện trong thời Đức Giêsu. Theo họ, ai có gốc Do thái đều được cứu độ hết.

    Nhưng dù với quan niệm nào đi nữa, người Do thái vẫn không thể hình dung hay chấp nhận được việc dân ngọai buớc vào Nước Thiên Chúa. Thế nên mới có một người Do thái, không rõ thành phần nào, đã đến xin Ngài giải đáp thắc mắc :”Phải chăng chỉ có một số ít được cứu độ” ? Thắc mắc này cũng là thắc mắc của mọi người Do thái và cần phải được giải đáp.

    1. Một câu trả lời
      a) Không trả lời thẳng 

    Đức Giêsu không muốn giải đáp thắc mắc cho họ vì Ngài đâu có quan niệm hẹp hòi như họ, và vì vậy Ngài không muốn trả lời thẳng câu hỏi của họ.

    Nếu Ngài đáp là “Phải” chỉ có một số ít người được cứu rỗi thì sẽ sinh hậu quả là những người Do thái thành ra kiêu căng tự mãn vì nắm chắc phần rỗi : vì tự mãn như thế họ không cần cố gắng gì thêm nữa. Và những người khác không phải là Do thái thì sẽ nản lòng, tự nhủ : “Ơn cứu rỗi không thuộc về mình, thôi thì cố gắng làm chi cũng vô ích”. Ngược lại, nếu Đức Giêsu đáp “Ơn cứu rỗi được ban cho số đông” thì cũng làm cho mọi người ỷ lại, không cố gắng, bởi vì cố gắng làm chi vì mình chắc chắn sẽ được cứu rỗi rồi mà !

    Tuy nhiên, như thánh Phaolô xác quyết :”Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta muốn cho mọi người được cứu độ”(1Tim 2,4). Và Đức Giêsu thì nói :”Cha các con Đấng ngự trên trời, không hề có ý để hư đi một người nào trong những kẻ bé mọn này”(Mt 18,14). Như thế, ơn Chúa không hề giới hạn theo khu vực, số lượng, song là tuôn trào đến khắp mọi nơi và cho hết mọi người. Nhưng như thế không có nghĩa là người ta “bị” cứu độ. Trái lại, họ luôn có tự do để đón nhận hay khước từ. Một chiếc ly không thể chứa được những gịot nước tươi  mát của trời cao nếu chẳng bao giờ ngửa miệng ly lên để hứng. Cũng thế, để được hưởng thành quả của ơn thiêng, người ta phải mở rộng tấm lòng và hướng về cùng Thiên Chúa.

    Chính vì lý do nêu trên mà Đức Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi dựa trên số lượng, Chúa chỉ nhắm tới phẩm chất : ơn cứu rỗi không phải là đặc quyền của một số người nào, của một phe nhóm nào cả mà thuộc về bất cứ ai biết sống theo Lời Chúa dạy.

    b) Phải hành động để được cứu độ

    Đức Giêsu không trả lời cho biết số lượng người được ơn cứu độ nhưng nhắc cho họ cách sống để được cứu độ, nghĩa là phải hành động.

                                          Truyện : Đừng ảo tưởng.

    Có một ông khách bộ hành phải đi qua một cái làng để đến một nơi mà ông ta không biết đích xác còn bao xa nữa thì mới tới được. Dọc đường ông ta gặp một bác tiều phu, liền dừng lại hỏi xem thử khoảng bao lâu nữa thì tới nơi mình muốn tới. Bác tiều phu nhìn ông khách rồi đáp ngay :”Tôi không biết”. Nghe thế, ông khách vội bước đi và nghĩ rằng người nhà quê đó không biết thật, chứ không phải khó tính khó nết. Nhưng khi vừa mới đi được vài bước thì bác tiều phu gọi với theo :”Này ông ơi, ông đi độ 15 phút nữa thì tới nơi đó”. Ngạc nhiên, ông khách quay trở lại hỏi bác tiều phu :”Tại sao khi nãy hỏi bác, bác trả lời không biết” ? Bác tiều phu thông cảm đáp:”Lúc ông hỏi tôi, ông chưa hành động nên chưa thấy bước đi của ông dài hay ngắn, mau hay chậm thì làm sao tôi có thể trả lời cho ông rõ ràng được” ?

    Như vậy, ta đi tới đích được hay không, sớm hay muộn là do nơi hành động của ta. Cũng thế, thành công hay thất bại trong cuộc đời là hệ tại nơi việc làm của ta như thế nào. Do đó, có một điều hết sức tai hại  mà ta phải luôn cảnh giác đề phòng là đừng quá tin tưởng vào những suy đoán chủ quan, những ảo tưởng siêu thực để rồi thiếu cố gắng tích cực, không chịu khó hành động cụ thể, sẽ rước lấy nhiều hậu quả khôn lường.

    Đó chính là tư tưởng chủ đạo mà qua bài Tin mừng hôm nay Chúa muốn cảnh tỉnh chúng ta trên con đường đi theo Ngài, nghĩa là trong cuộc sống đạo để có thể đi tới đích là ơn cứu độ, điều quan trọng không phải cứ ngồi một chỗ mà suy đoán  số phận tương lai, cũng không thể cậy dựa vào một vài ưu thế này nọ để rồi lên mặt  đòi biệt đãi hơn kẻ khác, nhưng là phải chuyên chăm đưa ra thực hành những gì Chúa chỉ dạy. Muốn thế, phải biết loại trừ những suy đoán sai lầm mà chúng ta thường mắc phải trong đời sống đạo…

    c) Đừng dựa vào gì khác

    Để được vào Nước Trời đừng ỷ lại vào gốc gác. Chính thánh Gioan Tẩy giả đã nói thẳng vào mặt những người biệt phái và bè Sađucêu :”Đừng ỷ mình là con cháu tổ phụ Abraham…”(Mt 3,7t). Đối với Đức Giêsu, những đặc quyền về chủng tộc này không đáng kể. Lời cảnh cáo nghiêm khắc của Đức Kitô trước tiên áp dụng cho những người đã từng ăn uống  trước mặt Ngài, và những người đã từng nghe Ngài giảng dạy. Có những người nghĩ rằng họ đã ở trong đạo Chúa thế là đã đủ rồi. Họ có ý phân biệt họ với đám dân ngọai. Nhưng con người sống trong Giáo hội của Chúa chưa chắc chắn đã là Kitô hữu, những người đó đang hưởng thụ các lợi ích, các tiện nghi  mà những người đi trước đã xây dựng nên. Nhưng đó không phải là lý do  để ngồi chơi, thỏa lòng và yên trí rằng mọi sự đều tốt đẹp cả. Ngược lại, chúng ta phải tự vấn :”Ta đã góp phần được gì vào di sản của người trước”. Chúng ta không thể sống bằng cái tất vay mượn của tiền nhân.

    II. ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC VÀO NƯỚC TRỜI 

    1. Phải qua cửa hẹp mà vào

    Đức Giêsu không trả lời thẳng vào câu hỏi :”Phải chăng số người được cứu độ thì ít” mà Ngài chỉ nói :”Hãy phấn đấu đi qua cửa hẹp mà vào”(Lc 13,24). 

    a) Cửa hẹp là gì ?

    Hình ảnh về cửa hẹp được Đức Giêsu sử dụng rất quen thuộc với dân chúng vào thời đại của Ngài. Dân chúng thời đó sống ở bên trong thành phố được bao bọc bằng vách tường. Vì không có đèn đường, các cửa và các cổng dẫn vào thành phố phải được đóng chặt chẽ vào ban đêm để tránh trộm cướp, hay kẻ thù cưỡi ngựa xâm nhập, tấn công thành phố. Nếu dân chúng đi ra khỏi thành phố và trở về trễ  sau khi các cổng đã đóng chặt rồi thì sao ?  Có ai mở cổng cho họ vào ? Không ! Khi cổng đã đóng rồi không ai được mở ra vì sợ bọn cướp hay quân địch ẩn núp trong bóng tối sẽ có thể tấn công bất ngờ.

    Những người trở về trễ phải khép mình chui qua một cái cửa hẹp. Những cái cửa hẹp này còn được gọi là “mắt của cái kim” –“the eye of the needle”. Cửa chỉ vừa vặn cho một người đi qua thôi, và không thể mang theo hành lý.

    Trong Luca chương 18, câu 25 :”Quả vậy, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Chúa”. “Lỗ kim” ở đây chính là “cửa hẹp”. Người đi buôn với hàng hóa cồng kềnh chất đầy trên lưng lạc đà không thể đi qua cửa này được. Phải vứt bỏ tất cả hàng hóa và hành lý xuống. Con lạc đà phải cúi đầu, khòm lưng  và quì gối xuống may ra mới lọt (Nguyễn văn Thái, Sống lời Chúa…, năm C, tr 290-291).

    b) Cửa rộng là gì ?

     Là con đướng rộng thênh thang dễ đi. Đa số quần chúng chọn đi con đường này vì đó là những giây phút khoái lạc mau qua của trần thế mang lại. Con đường này tuy thoải mái dễ chịu nhưng lại là con đường của những người dại khờ, nó không phải là con đường của Thiên Chúa. Bề lâu bề dài nó không dẫn tới đâu cả. Và cuối cùng chỉ là sự trống rỗng.

                                          Truyện : Khoái lạc trong một đêm.

    Một cặp vợ chồng trẻ nọ chia sẻ cho nhau nghe ước muốn có một ngôi nhà khang trang. Một nhà tỉ phú tình cờ theo dõi câu chuyện. Với tất cả nghiêm chỉnh, ông đề nghị với họ :”Nếu cô vợ chịu ngủ với ông một đêm, ông sẽ tặng họ một triệu mỹ kim. Hai vợ chồng đồng ý. Nhưng khi người vợ lên đường  đến với nhà tỉ phú thì người chồng cũng bắt đầu hối hận. Nhưng đã quá muộn. Sau một đêm để có một triệu mỹ kim, hai vợ chồng đã tan vỡ (…). Con đường dễ dãi là con đường dẫn tới hư mất. Sự thành đạt thường không đến cách ngẫu nhiên, mà là kết quả của những cố gắng và kiên nhẫn lâu dài.

    c) Bước qua cửa hẹp là gì ?

    Khi Đức Giêsu nói về cửa hẹp, Ngài muốn ám chỉ việc từ bỏ, “từ bỏ” hết mọi của cải trần gian. Sự khó khăn chật hẹp khi đi qua cửa là đời sống kỷ luật. Và đi qua cửa hẹp  thì phải đi qua một mình, cô đơn. Nhưng Thiên Chúa luôn cùng đi với ta. Đó là “con đường hy sinh và vất vả”. Nhưng lại là con đường của những người khôn ngoan và thận trọng  dẫn đến nguồn vui vẻ và hạnh phúc đời đời.

    Bước qua cửa hẹp còn có nghĩa là giữ và sống lời Đức Giêsu và giáo huấn của Giáo hội một cách nghiêm chỉnh suốt cuộc hành trình trần gian. Bước vào cửa hẹp còn là nhìn vào chính con người chúng ta như thể Thiên Chúa nhìn chúng ta  và bước đi dưới con mắt của Ngài, vì biết rằng Chúa hoàn toàn làm chủ cuộc sống của chúng ta.

    d) Phải vào đúng lúc là gì ?

     “Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khóa cửa lại”(Lc 13,25). Cánh cửa đã hẹp nay lại đóng kín. Thời gian hết sức cấp bách, phải bước vào ngay, ngày mai sẽ quá trễ. Ngay hôm nay phải bước vào Nước Trời.

    Đây là giờ của ơn thánh. Ơn Chúa không bao giờ thiếu, nhưng phải biết đáp ứng. Vì thế,  mỗi giây phút hiện tại, mỗi biến cố xẩy đến trong cuộc đời ta đều mang một ý nghĩa vì nó sẽ đem ta vào Nước Trời  hay chặn ta lại trước cánh cửa Nước Trời đang đóng lại. Tuy nhiên về ơn Chúa ta không thể biết đâu là đầu, là chót, là quyết định hay không. Nhưng chính sự mập mờ bấp bênh này càng làm cho ta phải dứt khóat lựa chọn và theo Chúa trong mỗi giây phút hiện tại.

    1. Qua cửa hẹp là phải chiến đấu 

    Đức Giêsu không trả lời trực tiếp về số lượng người được rỗi và chỉ nói đến cách thức để được cứu rỗi. Ngài nói :”Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào”(Lc 13,24). Ngài không muốn trấn an, Ngài muốn người ta sống có trách nhiệm. Từ đây, Ngài dùng hình ảnh quen thuộc trong toàn bộ Thánh Kinh : Nước Chúa như một phòng tiệc. Nhưng Ngài thêm : người ta xô đẩy nhau trước cửa vì cửa phòng “hẹp”.

    Từ Hy lạp mà chúng ta dịch là “chiến đấu” là một động từ mạnh bạo “agonizesté” nghĩa đen là “đánh nhau để được vào”. Từ “agonie” (hấp hối) trong tiếng Pháp có ngữ căn lấy từ động tự Hy lạp : Cuộc chiến đấu cuối cùng của sự sống. Để đem lại ơn cứu độ cho mọi người, Đức Giêsu là người đầu tiên đã chiến đấu, ở vườn Giếtsimani và đồi Golgotha. Trong một đọan văn khác, Ngài đã nói rằng “Chỉ những ai mạnh sức mới chiếm được Nước Trời”(Mt 11,12; Lc 16,16). (Quesson).

    Con đường chiến đấu khác nào một cuộc leo núi mà đỉnh chót không bao giờ đạt được ở trần gian này. Người ta nói về hai người leo núi nổi tiếng đã chết trên ngọn Everest rằng: “Khi người ta thấy họ lần cuối cùng thì họ vẫn hăng hái tiến lên đỉnh núi”. Người ta ghi khắc vào bia mộ  một hướng dẫn viên leo núi Alpes chết ở sườn núi rằng :”Chàng chết lúc đang lên”. Con đường Kitô hữu phải đi là con đường đi lên, tiến lên, tiến mãi.

     Tổng thống Washington có khuyên một câu thật chí lý :”Không nên chỉ đánh giá thành công qua địa vị mà con người đạt được trong cuộc sống, nên đánh giá sự thành công  qua những trở ngại mà người đó khắc phục được”.

    Cuộc đời có biết bao lôi cuốn cam go, nhưng chỉ khi can đảm, không thỏa hiệp hay nhân nhượng với kẻ thù, người ta mới có thể nói được như thánh Phaolô :”Tôi đã chiến đấu trong cuộc sống chính nghĩa; đã chạy đến cùng đường; kiên vững trong lòng tin. Giờ đây, triều thiên công chính được dành sẵn cho tôi, và Thiên Chúa, Đấng phán xét chí công, sẽ hoàn lại cho tôi trong ngày ấy, không chỉ cho tôi mà thôi, nhưng còn cho hết mọi người đã đầy lòng mến yêu trông đợi Ngài xuất hiện”(2Tm 4,6-8).

     Nhiều khi huấn luyện để  ta trở nên người chiến binh dũng mạnh hầu chiến đấu đến cùng đường, Thiên Chúa cũng phải “quở trách… sửa dạy… và đánh đòn”(Dt 12,5-6). Âu cũng vì thương con mà “cho roi cho vọt” và “có gian nan mới tạo anh hùng”.

                                          Truyện : Muốn vào hàng trai tráng.

    Trong nhiều bộ lạc Da đỏ Mỹ châu  họ hay có nghi thức huấn luyện và thu nhận thiếu niên vào hàng ngũ trai tráng trong làng, người ta tổ chức như sau : Khi mặt trời sắp lặn, người bố sẽ dắt đứa con của mình vào sâu trong một cánh rừng. Đứa bé được trao cho một cây lao với lời nhắn nhủ :”Con sẽ ở một mình trong rừng đêm nay”. Sau đó người bố rút lui.

    Màn đêm buông xuống rất nhanh. Không gian chập chờn với bao tiếng gầm rú rùng rợn. Người ta dễ có cảm tưởng đang bị thú dữ rình chờ tấn công. Thỉnh thoảng, vài tiếng vỗ cánh của chim ăn đêm cũng có thể làm cho người yếu vía giật mình. Thời gian chậm chạp trôi qua. Mỗi giây phút là cả một khoảng dài vô định.

    Nhưng cuối cùng, màn đêm cũng rút lui. Bầu trời từ từ hừng sáng. Nỗi sợ hãi trong đứa bé cũng phai mờ theo. Từ trong một lùm cây, một bóng người xuất hiện : cha của đứa bé. Đứa bé nhận ra và vui mừng chạy đến ôm chầm lấy bố, reo lên :”Bố đã trở lại”. Người cha hãnh diện khi thấy con mình trải qua đêm đen như một người trưởng thành. Đứa bé không hề biết rằng suốt đêm qua cha nó không ngừng trông chừng nó.

    Để trở thành chiến binh anh dũng trên mặt trận đức tin, lắm khi chúng ta cũng phải chấp nhận biết bao thách đố trong bóng đêm cuộc đời. Những đe dọa của sự dữ, gầm rú của đau khổ, rình chờ của xác thịt như những phương thế giúp tinh luyện lòng ta thêm can trường dũng mãnh. Và trong suốt chiều dài của bóng đêm đó, dù ta có ý thức hay không, Thiên Chúa vẫn luôn ở bên cạnh dõi mắt trông nhìn chúng ta.

    1. Qua cửa hẹp còn là sám hối, hoán cải

    Đối với những người Do thái họ tưởng rằng mình đương nhiên có thể vào Nước Thiên Chúa, nhưng Đức Giêsu nói:”Các ông hãy sinh trái cây thống hối,  nếu không, địa vị ưu đãi của các ông sẽ chẳng có ích gì”.

    Đức Giêsu cho biết hoán cải là một phương thế cần thiết để được vào Vương quốc. Và Ngài tiếp tục đem sự hoán cải đến với phần lớn những người  không có gì hứa hẹn. Nhiều người tội lỗi đã chú ý đến lời kêu gọi hoán cải của Ngài và họ đã lên đường tiến tới Vương quốc. Trong khi nhiều người có đạo đã ngoan cố chống lại lời kêu gọi hoán cải của Ngài và do đó, tự loại mình ra khỏi Vương quốc.

    Khi nghe Đức Giêsu nói:”Ở đó các ngươi sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy ông Abraham, Isaac và Giacóp cùng tất cả các tiên tri ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình thì lại bị đuổi ra ngoài. Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa”(Lc 13,28-29), cách nói này có thể cho chúng ta cảm tưởng rằng những người có thiện chí, thật sự tìm cách vào Nước Trời sẽ bị lọai trừ một cách độc đoán bởi sự độc tài của một ông chủ không có lòng thương xót. Hẳn đó là bức biếm họa về Thiên Chúa ! Thiên Chúa không tàn nhẫn và bất công. Thật vậy, ai không vào được bữa tiệc chỉ có thể trách cứ chính mình. Thiên Chúa đã làm tất cả để cánh cửa nổi tiếng là “hẹp” ấy trở thành một cánh cửa rộng mở cho mọi người không phân biệt.

    Chúng ta phải khẳng định hai điều :

    * Về phía Thiên Chúa, tất cả đã sẵn sàng để cứu chuộc mọi người không trừ ai.

    * Về phía con người, chỉ cần có sự nghiêm túc của tự do, tự do này có thể từ chối ơn Thiên Chúa ban cho và tự do này là một cuộc chiến đấu.

    1. Những kẻ chót sẽ lên hàng đầu

    Đức Giêsu nói:”Và kìa những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót” (Lc 13,30). Đây là thành ngữ của người Do thái nhằm diễn tả sự đảo ngược thứ tự. Thành ngữ này được dùng nhiều trong Tin mừng (Mt 19,30; 20,16; Mc 10,31). Theo mạch văn bài Tin mừng trên thì qua thành ngữ này, Đức Giêsu có ý bác bỏ “quyền ưu tiên truyệt đối” (theo quan niệm của một số người Do thái) rằng dân Do thái là dân riêng của Chúa thì đương nhiên sẽ được vào Nước Trời dù sống thế nào đi nữa (Mt 3,9-10; Ga 8,33t).

    Ở đây không có ý áp dụng cho mọi cá nhân, nhưng Đức Giêsu có ý so sánh toàn thể dân Do thái, từ khi Ngài xuất hiện, với toàn thể lương dân. Khi đề cập đến hai nhóm đó, Ngài công bố có nhiều người lương sẽ được cứu rỗi trước người Do thái, và ngay cả cộng đoàn toàn thể lương dân sẽ vào Nước Trời trước cộng đoàn Do thái. Giáo huấn này được thánh Phaolô nhắc lại trong thư gửi tín hữu Rôma (Rm 11,25-26). Giáo huấn này được ứng nghiệm trong Giáo hội sơ khai (Cv 13,46-48; 28,25-28).

    Sẽ có những bất ngờ trong Nước Thiên Chúa. Những người nổi danh ở thế gian này sẽ có thể rất thấp kém trong đời sau. Những người chẳng ai biết đến trong đời này có thể sẽ là những vương tử ở đời sau.

                                          Truyện : Có sự đảo ngược.

    Một người đàn bà giầu sang được thế gian này rất mực tôn trọng. Bà ta chết và khi tới thiên đàng  thì có một thiên sứ đưa bà đến nhà bà sẽ ở. Bà ta thấy nhiều ngôi nhà xinh đẹp và mỗi lần đi qua bà cứ tưởng nhà đó dành cho bà. Khi đi qua các dẫy phố chính ở trên trời, tới khu ngọai ô, tại đó các nhà nhỏ hơn nhiều, và đến cuối phố, gặp một cái nhà chỉ hơn cái lều một chút. Thiên sứ bảo :”Đây là nhà của bà”. Bà nói :”Cái gì vậy ? Tôi không thể nào sống trong đó”. Thiên sứ đáp :”Tôi rất tiếc, nhưng đó là tất cả những gì chúng tôi có thể kiến thiết với những vật liệu mà bà đã gửi lên đây”! Các tiêu chuẩn trên trời không giống các tiêu chuẩn dưới đất. Hạng nhất của thế gian thường sẽ là hạng bét và hạng bét của thế gian là hạng nhất ở trên trời…

    Qua bài Tin mừng hôm nay, chúng ta phải quyết tâm đi vào con đường hẹp, phải phấn đấu hết mình để vào qua cửa hẹp, đây là điều kiện mà tiếng La tinh gọi là ‘conditio sine qua non”, điều kiện bắt buộc, không có không được.  Chúng ta đã có nhiều bài học do tiền nhân để lại như :

              – Nước chảy đá mòn.
              – Kiến tha lâu đầy tổ,
              – Có công mài sắt có ngày nên kim. 

    Thì trên phương diện siêu nhiên thì cũng thế, vì Chúa đã phán :”Ai muốn theo Ta, hãy vác thập giá mình hằng ngày mà theo” hoặc :”Ai bên đỗ đến cùng mới được cứu rỗi”.

    Cũng thế, nếu ở đời :”Có khó mới có miếng ăn” hoặc “Không có hạnh phúc nào có thể đạt được một cách dễ dàng”, thì hạnh phúc Nước Trời cũng đòi hỏi chúng ta phải chịu khó gấp bội mới chiếm được. Tương lai đang chờ đón ta !

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm GP. Đà Lạt

    …………………………

    Suy Niệm 4: Đức Giêsu chính là cửa hẹp

    Tôi phải thành thật thú nhận rằng, tôi cảm thấy hoảng loạn và bối rối khi lần đầu tiên bước vào ngôi thánh đường của người Đức. Người tham dự thánh lễ chúa nhật hầu hết là người lớn tuổi, chỉ có một vài trẻ em và thanh thiếu niên. Giống như người nọ trong Phúc âm hôm nay tôi hỏi Đức Giêsu: Phải chăng ở phương Tây khi chết họ xuống hoả ngục hết à? Tôi có hứng thú với câu hỏi này, vì sau khi vô chủng viện tôi hiểu yêu sách này của Đức Giêsu theo nghĩa đen: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào.” Giống như  những người công giáo Việt nam trong năm thánh, tôi sốt sắng đọc kinh cầu nguyện, siêng năng viếng nhà thờ xưng tội, tôi tổ chức đời sống rập theo khuôn khổ và luật của chủng viện. Phải chăng mọi cố gắng của tôi là chuyện tốn công vô ích!? Đức Giêsu không trả lời câu hỏi của tôi cũng giống như năm xưa. Ngài không những không trả lời mà một lần nữa nhắc lại yêu sách này: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào.” Chúng ta phải hiểu ngụ ý của Đức Giêsu như thế nào đây?

    Một ngụ ngôn Do thái kể về thầy cả Baruka. Hằng ngày ông thường hay đi ngang qua chợ. Một ngày nọ tiên tri Êlia xuất hiện ở đó và thầy cả Baruka hỏi ngài: “Trong dòng người đi ngang qua đây, có người nào được thừa hưởng hạnh phúc nước trời không?” Êlia đáp: “Không có mống nào cả!” Một lúc sau có hai người đi ngang qua chợ, tiên tri Êlia nói với thầy cả Baruka: “Hai người này xứng đáng hưởng hạnh phúc nước trời.” Thầy cả mới hỏi hai người vừa đến: “Các anh làm nghề gì vậy?” Họ trả lời: “Chúng tôi là những chàng hề, làm nghề mua vui cho thiên hạ.” Khi thấy ai đang buồn, chúng tôi làm cho kẻ đó cười bò càng ra. Khi thấy hai người đang cãi nhau, chúng tôi tìm cách để họ làm hoà. Cố gắng của hai người họ là tận dụng mọi sức lực để khả năng của họ có thể đơm bông kết trái và làm lan toả ra thế giới chung quanh. Nhưng theo tôi nghĩ, ngụ ngôn này vẫn chưa lột tả được yêu sách mà Đức Giêsu đặt ra cho mỗi người trong chúng ta: “Hãy chiến đấu …” Chúng ta cảm thấy vẫn còn thiếu một chút gì đó tối ư quan trọng. Bởi vì như lời trong Phúc âm, nhiều người đã cố gắng hết sức nhưng vẫn không thể vào. Kể cả những con chiên ngoan đạo cũng không có cửa để vào. Họ được ví như bầy khỉ, đã thò tay vào ống tìm được thức ăn nhưng vì tham quá, chết cũng không buông!

    Không phải lòng đạo đức, cũng không phải những việc từ thiện bác ái giúp chúng ta mở cửa vào nước trời. Ai tin rằng, dựa vào những thành tích của riêng mình mà đạt nước trời, người đó là kẻ ngu xuẩn. Bởi vì tình yêu của Thiên Chúa không bao giờ dùng thành tích của chúng ta để đo lường. Nhưng là người Kitô hữu chúng ta có quyền hy vọng rằng, không ai bị gạt ra ngoài vì Thiên Chúa muốn mọi người được hưởng ơn cứu độ. Ngài đã dọn sẵn cho chúng ta những con đường dẫn đến công lý, dẫn đến hạnh phúc thật và cuộc sống vĩnh cửu. Chính Ngài đã mở cửa trời cho chúng ta. Nhưng cánh cửa này thật chật hẹp và lúc ẩn lúc hiện làm cho những ai không chú ý sẽ không khám phá ra. Đức Giêsu nói: “Thầy là cửa.” Và Ngài cũng nói: “Thầy là sự sống” và “Thầy là con đường” dẫn đến sự sống này. Như vậy chúng ta tìm được lối vào cửa hẹp chỉ khi chúng ta có một mối tương quan mật thiết với Đức Giêsu. Ai có Đức Giêsu cùng đồng hành kẻ đó không sợ bị lầm đường lạc lối. Cuộc sống thân tình với Đức Giêsu qua lời cầu nguyện và lời kinh tiếng hát chỉ là một nửa, phần còn lại cũng không kém quan trọng chính là chứng từ của cuộc sống. Kẻ đó giữ môi miệng luôn sạch sẽ và sống vị tha. Kẻ đó luôn để ý khám phá ra dấu vết Đức Giêsu để lại bên vệ đường. Ngài đón chúng ta ở cuối đường và nói: Hãy đến – vào hưởng niềm vui nước trời.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

                                                                      

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com