Thêm

    Chúa Nhật XIX Thường Niên

    BÀI ĐỌC I: Kn 18, 6-9

    Chính đêm ấy, cha ông chúng ta đã biết trước, để biết chắc mình đã tin tưởng vào lời thề nào mà được can đảm. Dân Chúa đã mong đợi sự giải thoát những người công chính và sự tiêu diệt kẻ thù. Vì như Chúa đã làm hại đối thủ thế nào, Chúa cũng kêu gọi để làm cho chúng tôi được vẻ vang như vậy. Vì những con cái thánh thiện của các tổ phụ tốt lành đã lén lút tế lễ, và đồng tâm thiết lập luật thánh thiện, ấn định rằng những người công chính sẽ đồng hưởng vinh nhục, may rủi đều nhau; như vậy là họ đã xướng lên trước bài ca tụng của các tổ phụ.

    BÀI ĐỌC II: Dt 11, 1-2, 8-19

    Anh em thân mến, đức tin là cốt yếu những thực tại người ta mong đợi, là bằng chứng điều bí ẩn. Vì nhờ đức tin mà các tiền nhân đã nhận được bằng chứng tốt. Nhờ đức tin, Abraham đáp lại tiếng Chúa gọi, để ra đi đến xứ ông sẽ được lãnh làm gia nghiệp, và ông ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đến cư ngụ trong đất Chúa hứa, như trong đất khách quê người, sống trong lều trại, cũng như Isaac và Giacóp, những kẻ đồng thừa tự cùng một lời hứa. Vì chưng, ông mong đợi thành trì có nền móng mà Thiên Chúa là kiến trúc sư và là Đấng sáng lập. Nhờ đức tin mà ngay cả bà Sara son sẻ được sức mang thai, mặc dầu bà đã già, bởi vì bà tin rằng Đấng đã hứa sẽ trung tín giữ lời. Vì thế, do tự một người, mặc dầu người đó như chết rồi, mà có một dòng dõi đông đúc vô số như sao trên trời và như cát bãi biển. Chính trong đức tin mà tất cả những kẻ ấy đã chết trước khi nhận lãnh điều đã hứa, nhưng được nhìn thấy và đón chào từ đàng xa, đồng thời thú nhận rằng mình là lữ khách trên mặt đất. Những ai nói những lời như thế, chứng tỏ rằng mình đang đi tìm quê hương. Giá như họ còn nhớ đến quê hương dưới đất mà họ đã lìa bỏ, chắc họ có đủ thời giờ trở về. Nhưng hiện giờ họ ước mong một quê hương hoàn hảo hơn, tức là quê trời. Vì thế, Thiên Chúa không ngại để họ gọi mình là Thiên Chúa của họ, vì Người đã dọn sẵn cho họ một thành trì. Nhờ đức tin, khi bị thử lòng, Abraham đã dâng Isaac. Ông hiến dâng con một mình, ông là người nhận lãnh lời hứa, là người đã được phán bảo lời này: “Chính nơi Isaac mà có một dòng dõi mang tên ngươi”. Vì ông nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền làm cho kẻ chết sống lại, do đó, ông đã đón nhận con ông như một hình ảnh.

    PHÚC ÂM: Lc 12, 32-48

    Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Hỡi đoàn bé nhỏ, các con đừng sợ, vì Cha các con đã vui lòng ban nước trời cho các con. Các con hãy bán những của các con có mà bố thí. Hãy sắm cho các con những túi không hư nát, và kho tàng không hao mòn trên trời, là nơi trộm cướp không lai vãng và mối mọt không làm hư nát. Vì kho tàng các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó. “Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, và hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa, thì mở ngay cho chủ. Phúc cho những đầy tớ nào khi chủ về còn thấy tỉnh thức: Thầy bảo thật các con, chủ sẽ thắt lưng, đặt chúng vào bàn ăn, và đi lại hầu hạ chúng. Nếu canh hai hoặc canh ba, chủ trở về mà gặp thấy như vậy, thì phúc cho các đầy tớ ấy. Các con hãy hiểu biết điều này là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, ắt sẽ tỉnh thức, không để nó đào ngạch nhà mình. Cho nên các con hãy sẵn sàng: vì giờ nào các con không ngờ, thì Con Người sẽ đến”. Phêrô thưa Người rằng: “Lạy Thầy, Thầy nói dụ ngôn đó chỉ về chúng con hay về mọi người?” Chúa phán: “Vậy con nghĩ ai là người quản lý trung tín khôn ngoan mà chủ đã đặt coi sóc gia nhân mình, để đến giờ phân phát phần lúa thóc cho họ? Phúc cho đầy tớ đó, khi chủ về, thấy nó đang làm như vậy. Thầy bảo thật các con, chủ sẽ đặt người đó trông coi tất cả gia sản mình. Nhưng nếu đầy tớ ấy nghĩ trong lòng rằng: “Chủ tôi về muộn”, nên đánh đập tớ trai tớ gái, ăn uống say sưa: chủ người đầy tớ ấy sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết, chủ sẽ loại trừ nó, và bắt nó chung số phận với những kẻ bất trung. Nhưng đầy tớ nào đã biết ý chủ mình mà không chuẩn bị sẵn sàng, và không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều. Còn đầy tớ nào không biết ý chủ mình mà làm những sự đáng trừng phạt, thì sẽ bị đòn ít hơn. Vì người ta đã ban cho ai nhiều, thì sẽ đòi lại kẻ ấy nhiều, và đã giao phó cho ai nhiều, thì sẽ đòi kẻ ấy nhiều hơn”.

    Suy Niệm 1: MỌI NGƯỜI TIN ĐỀU LÀ NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH HY VỌNG

    Bài đọc trích sách Khôn ngoan nhắc lại cái ‘đêm’ lịch sử trong đó Thiên Chúa giải phóng dân Ngài, theo như chính Ngài đã hứa trước với họ qua Mô sê. Nhờ được hứa trước như vậy mà họ đã TIN TƯỞNG (tức trông cậy, hy vọng) vững vàng để trải qua biến cố lớn lao ấy. “Chính đêm ấy, cha ông chúng ta đã biết trước, để biết chắc mình đã tin tưởng vào lời thề nào mà được can đảm. Dân Chúa đã mong đợi sự giải thoát những người công chính và sự tiêu diệt kẻ thù”. (x. Kn 18,6-9). Đức cậy, hay niềm HY VỌNG, là động lực đưa dẫn người ta tiến về phía trước (tương lai) – và đức cậy ấy dựa vào lời hứa mà người ta đã kinh nghiệm (trong quá khứ và hiện tại).

    Thánh vịnh 32 (Đáp ca) diễn tả điều nói trên rất rõ: “Linh hồn chúng con MONG ĐỢI Chúa, chính Ngài là Ðấng phù trợ và che chở chúng con. Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con TIN CẬY ở nơi Ngài”. Mong đợi, tin cậy, vì điều cuối cùng vẫn chưa đạt được! Nhưng người ta tin tưởng rằng mình đang bước đi (hành hương/ lữ hành) về phía đó, và không gì chắc chắn bằng sự thật rằng điều cuối cùng ấy, tức sự hoàn thành chung cuộc của lời hứa, nằm ở cuối con đường mình đang đi tới…

    Bài đọc trích Thư Do thái nêu các tấm gương đức cậy của các tổ phụ (Abraham, Xara, Isaac, Giacop…) trong cuộc sống của các ngài. Nhưng niềm HY VỌNG cuối cùng mà các ngài ôm ấp nâng niu thì vượt quá sinh thời của các ngài. Đây là ‘kịch tính’ (drama) của đức cậy: Các vị “đã chết trước khi nhận lãnh điều đã hứa, nhưng được nhìn thấy và đón chào từ đàng xa, đồng thời thú nhận rằng mình là lữ khách trên mặt đất”! (x. Dt 11,1-2.8-19). Đức cậy như thế rõ ràng dựa trên đức tin. Tôi tin, nên tôi tin tưởng (‘tin tưởng’ là từ ngữ nói về đức cậy, bên cạnh những từ ngữ khác như ‘tín thác’, ‘hy vọng’, trông cậy’…).

    Bài Tin Mừng (Lc 12,32-48) – với dụ ngôn về những người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới về – là một trình bày tổng hợp các yếu tố liên quan đến đức cậy Kitô giáo. Không gì chắc chắn bằng việc ông chủ sẽ trở về (trong tương lai), vì đó là lời hứa đã được trao cho (trong quá khứ). Nhưng không biết lúc nào chủ về, vì thế thời điểm là yếu tố hoàn toàn bất ngờ! Vậy cần phải tỉnh thức sẵn sàng trong tình trạng đợi chủ (trong hiện tại). Sự tỉnh thức và sẵn sàng ấy sẽ bao gồm một tinh thần siêu thoát khỏi mọi quyến luyến làm ta xao lãng việc đợi chủ về: “Vì kho tàng anh em ở đâu, thì lòng anh em cũng ở đó!”

    Lời Chúa hôm nay, như thế, soi sáng cho ta hiểu đức cậy hay niềm hy vọng Kitô giáo. Niềm hy vọng này dựa vào đức tin, dựa vào lời Chúa hứa, liên hệ đến tất cả các chiều kích quá khứ, tương lai và hiện tại của đời sống chúng ta. Theo đó, trong hiện tại của mình, chúng ta cần luôn tỉnh thức sẵn sàng, siêu thoát khỏi mọi quyến luyến, sống trong tâm thế của ‘những người lữ hành hy vọng’.

    Và đừng quên, như các tổ phụ và như mọi người tin, chúng ta cũng có thể sẽ chết trong đức cậy hay niềm hy vọng ấy – nghĩa là trong tình trạng lời hứa còn dang dở, chưa hoàn thành. Nhưng không sao cả, không có gì dang dở cả, vì câu chuyện cuộc đời của tất cả chúng ta đều ở trong câu chuyện duy nhất của Thiên Chúa, và câu chuyện duy nhất này chắc chắn sẽ hoàn thành.

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    …………………………..

    Suy Niệm 2: TÍCH TRỮ CHO MÌNH KHO TÀNG Ở TRÊN TRỜI

    Lời Chúa tuần trước mời gọi chúng ta trở nên giàu có trước mặt Thiên Chúa. Tuần này, lời Chúa tiếp tục giúp chúng ta biết cách làm thế nào để trở nên giàu có trước mặt Thiên Chúa, đó là trở nên những người đầy tớ tỉnh thức và trung thành, biết phân phát những của cải chóng qua ở đời này hầu tích trữ cho mình một kho tàng không bị hư hoại ở trên trời. Sợi dây nối kết lời Chúa hôm nay là đề tài “thưởng – phạt” theo đúng những gì chúng ta làm.

    Trong bài đọc 1, tác giả sách Khôn Ngoan trình bày cho chúng ta đêm vượt qua, đêm mà dân Israel ra khỏi đất nô lệ Ai Cập để bắt đầu hành trình đi vào đất hứa. Trong đêm đó, Đức Chúa “dùng hình phạt giáng xuống đối phương để làm cho chúng con được rạng rỡ và kêu gọi chúng con đến với Ngài” (Kn 18:8). Còn những người “con lành cháu thánh của những người lương thiện âm thầm dâng lễ tế trong nhà” (Kn 18:9) thì được giải thoát và chúc lành. Điều phân biệt những người “bị hình phạt giáng xuống” và những người “được rạng rỡ” là niềm tin họ đặt vào lời Chúa hứa. Chính đức tin đã làm cho dân Israel trở nên can đảm để tiến bước, để đi ra khỏi vùng đất nô lệ mà vào đất hứa. Chúng ta cũng là những người tin Chúa. Nhưng đức tin của chúng ta có mang lại cho chúng ta sự can đảm để đi ra khỏi ách nô lệ của thói hư tật xấu để sống trọn vẹn cho Chúa không? Hãy diễn tả đức tin của chúng ta qua đời sống từ bỏ con người cũ, con người của tội lỗi để sống cho Chúa và cho anh chị em của mình.

    Đề tài về đức tin cũng được Thánh Phaolô khai triển một cách chi tiết và cụ thể hơn trong bài đọc 2 khi ngài áp dụng vào trường hợp của ông Ápraham. Theo Thánh Phaolô, “đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám” (Dt 11:1-2).

    Thánh Phaolô, qua việc dùng hình ảnh ông Ápraham, đưa ra cho chúng ta những đặc tính sau đây của đức tin: (1) Đi ra khỏi chính mình [ra khỏi những nơi an toàn mang tính con người] để hoàn toàn đi theo hành trình Chúa vẽ ra (x. Dt 11:8-10); (2) vững tâm rằng Thiên Chúa luôn trung thành với điều Ngài đã hứa (x. Dt 11:11-16); (3) trung thành với Chúa ngay cả khi gặp thử thách khó khăn nhất (x. Dt 11:17-19). Từ những đặc tính này, chúng ta thấy đức tin không phải là một cái gì đó trừu tượng, nhưng là một lối sống. Nói cách khác, đức tin không hệ tại việc tin nhận một vài tín điều hay luật lệ, nhưng hệ tại thái độ hoàn toàn phó thác cuộc đời mình trong bàn tay đầy yêu thương của Thiên Chúa. Đức tin rất sống động vì nó nối kết chúng ta với Thiên Chúa, nên đức tin được gọi là nhân đức đối thần [nhân đức đặt chúng ta trong tương quan với Chúa]. Hành trình đức tin của chúng ta cũng gặp nhiều thử thách, nhất là những thử thách đến từ vật chất [không có cái ăn cái mặc] hay cuộc sống thể lý [như bệnh tật hay sự chết]. Hình ảnh trung thành của Ápraham trong thử thách mời gọi chúng ta vững tâm vào Chúa. Chúng ta chỉ vững tâm khi chúng ta biết rằng hạnh phúc đích thật của con người không hệ tại vật chất họ có, nhưng hệ tại những giá trị thiêng liêng mà Thiên Chúa ban cho họ và họ trao ban cho người khác. Tiền của không thể giữ chân một người bạn chân thật! Chỉ có tình yêu và sự bao dung mới làm được điều đó.

    Bài Tin Mừng hôm nay bao gồm những lời Chúa Giêsu dạy các môn đệ của Ngài về việc tích luỹ cho mình kho tàng trên trời. Để làm được điều đó, họ phải luôn tỉnh táo sống trọn vẹn ơn gọi của mình và hoàn thành những điều mà Thiên Chúa trao. Đây cũng chính là lời mời gọi mỗi người chúng ta, những người nhiều lần để cho nỗi lo lắng về cơm áo gạo tiền hay tìm kiếm một cuộc sống đầy đủ tiện nghi đã quên mất quê hương thật của chúng ta không ở trên thế gian này, nhưng là ở trên trời. Vì vậy, chúng ta phải thu gom tích góp cho mình của cải trên trời bằng cách đặt đúng vị trí và sử dụng đúng mục đích những của cải vật chất chúng ta có.

    Trong những câu đầu tiên của Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu hứa với các môn đệ–những người đang vật lộn với cuộc sống, những người đang bị chống đối, và một nhóm nhỏ các môn đệ–sẽ cho tất cả những gì là quan trọng nhất, đó là Nước Trời cùng những quyền lực để hoạt động trong đó: “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12:32). Bên cạnh lời khuyến cáo của Chúa Giêsu cho các môn đệ về sự lo lắng về của cải vật chất [trong câu 22-32], Thánh Luca trở lại đề tài về sự cần thiết của việc chia sẻ của cải vật chất cho người khác qua việc bố thí, điều đã được giới thiệu trong câu 21: “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá. Vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó (Lc 12:32-34). Những lời này không chỉ là lời mời gọi, nhưng còn là những lời khuyến cáo cho chúng ta ngày hôm nay, những người đang bị chủ nghĩa cá nhân thống trị. Nhiều người trong chúng ta thay vì bán tài sản mình có lại tìm cách tích trữ càng nhiều càng tốt tài sản trên trần gian này, đến nỗi chúng ta không còn lòng trí để nghĩ đến những giá trị thiêng liêng. Ai trong chúng ta cũng biết rằng: mọi của cải trên đời này đều sẽ qua đi và chúng không thể mang lại cho chúng ta hạnh phúc đích thật. Vậy mà chúng ta vẫn bôn ba suốt đời để tích trữ chúng để khi ra đi khỏi thế gian này mới nhận ra rằng hai bàn tay trắng chúng ta sinh vào đời và cũng với hai bàn tay trắng chúng ta ra đi. Chúng ta để lại cho cuộc đời này cái gì: Một chút tình người, một chút tình yêu và tha thứ hay là một khối tài sản vô tri vô giác? Chỉ những ai được đụng chạm bởi tình người, tình yêu và sự tha thứ của chúng ta mới khóc và thương tiếc khi chúng ta rời khỏi cuộc đời này. Còn tài sản vật chất không biết khóc và thương tiếc [hay cầu nguyện] cho chúng ta!

    Điều chúng ta cần lưu ý khi đọc dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay là việc Thánh Luca giải thích dụ ngôn này theo chiều hướng Giáo Hội Học [được áp dụng vào đời sống cộng đoàn]: Những người lãnh đạo cộng đoàn phải trung thành và không tạo ra những vấn đề nội tại cho cộng đoàn [Giáo Hội]. Một trong những chìa khoá để hiểu được điều Thánh Luca muốn nói là việc Ngài sử dụng từ Hy Lạp doulos, “người đầy tớ,” “người nô lệ” [từ này xuất hiện trong các câu 37,43,45,46,47]. Từ này ám chỉ đến người đang phục vụ trong các cộng đoàn [x. Rm 1:1; 1 Cr 7:22; Gl 1:10). Một chìa khoá khác là từ oikonomos, “quản gia.” Từ này chỉ xuất hiện trong Tin Mừng Thánh Luca (12:42; x. 16:1,3,8) cũng ám chỉ đến người đang phục vụ cộng đoàn. Như vậy, hai từ này được Chúa Giêsu kết hợp lại trong hình ảnh người môn đệ, là người đầy tớ-quản gia. Tư tưởng này áp dụng cho mỗi người chúng ta, là những người môn đệ Chúa Giêsu. Chúng ta là những người đầy tớ phục vụ anh chị em của mình, đồng thời là những người lãnh đạo, những người hướng dẫn người khác với gương sáng của mình.

    Một trong những đặc tính quan trọng của người môn đệ [tôi tớ-quản gia] là tỉnh thức. Điều này chúng ta thấy trong câu 35-36. Trong câu này, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ như sau: “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay.” Người đợi chủ đi ăn cưới về là người đầy tớ đang tỉnh thức. Khi thấy người đầy tớ tỉnh thức, ông chủ sẽ phục vụ người đó (Lc 12:37). Ở đây vai trò chủ-tớ bị đổi ngược. Điều này rất quan trọng và đánh dấu sự thưởng công cách tuyệt đối của Thiên Chúa cho những môn đệ trung thành với ơn gọi và công việc của mình. Trong thần học của Thánh Luca, những người môn đệ trung thành trong thời gian sống trên trần thế sẽ được chia sẻ trong bàn tiệc trên Thiên Đàng. Chi tiết này ám chỉ đến mối tương quan giữa những gì chúng ta làm trên trần gian này và phần thưởng [hay hình phạt] trong đời sau. Hay nói cách khác, mỗi hành động chúng ta làm trong ngày sống luôn mang trong bản chất của nó tính “vĩnh cửu.” Vì vậy, chúng ta hãy khôn ngoan và cẩn thận trong tất cả những hành động của mình, vì những hành động chúng ta thực hiện sẽ khẳng định “định mệnh” của chúng ta trong ngày cánh chung!

    Bài Tin Mừng kết với lời khuyến cáo của Chúa Giêsu cho các môn đệ không trung thành qua câu trả lời cho Thánh Phêrô: “Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?” (Lc 12:41). Thánh Phêrô luôn là người đại diện cho các môn đệ [và đại diện cho mỗi người chúng ta]. Nhiều khi chúng ta cũng có thái độ như Thánh Phêrô, đó là chúng ta tự nghĩ, lời khuyến cáo này chỉ nhắm đến người khác, chứ không phải cho tôi. Trước câu hỏi của Thánh Phêrô, Chúa Giêsu không đưa ra câu trả lời trắng hoặc đen. Ngài mời gọi các môn đệ tìm ra câu trả lời cho riêng mình. Nói cách cụ thể hơn, Chúa Giêsu nói dụ ngôn này cho tất cả mọi người [các môn đệ và đám đông dân chúng]. Nhưng điều Ngài nhấn mạnh là những người môn đệ [những người lãnh đạo cộng đoàn] mà không trung thành hay vô ý vô tứ trong công việc của mình sẽ bị phạt nhiều hơn: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều. Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt, thì sẽ bị đòn ít. Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn” (Lc 12:47-48). Chúng ta có thể hiểu những lời này như những lời sau: kẻ cho nhiều sẽ bị đòi lại nhiều. Là những người Kitô hữu, chúng ta thường tự hào mình biết Chúa nhiều, biết điều Chúa muốn hơn những anh chị em thuộc các tôn giáo khác. Tuy nhiên, chúng ta đã sống trọn vẹn ơn gọi của mình chưa? Nói cách khác, chúng ta đã sống tốt hơn, bao dung hơn, quảng đại hơn và tha thứ hơn những anh chị em khác không?

    …………………………..

    Suy Niệm 3: Sống tốt đạo đẹp đời

    Trong cuộc sống con người có nhiều chuyện chúng ta không tài nào dùng khối óc của mình  để tham thấu tường tận. Chúng ta chỉ có thể dùng lòng tin để đón nhận. Nếu như ai đó tỏ tình với tôi và nói rằng “Anh yêu em hay là em yêu anh“ chẳng hạn thì tôi không thể nào dùng những phương pháp khoa học để kiểm nhận. Tôi chỉ có thể dựa vào cảm giác của mình để rồi đón nhận và tin tưởng rằng người ấy sẽ yêu mình suốt đời hay là chối từ tình yêu của kẻ ấy. Trong đời sống đức tin cũng có những nét tương tự: Tôi tin rằng Thiêu Chúa yêu thương tôi và vì vậy suốt đời tôi cố gắng sống đáp trả lại tình yêu ấy.

    Đức tin cũng là đề tài được thánh Phaolô nói đến trong thư gửi tín hữu Do thái. Điểm chính yếu không phải là một số tín điều buộc chúng ta tin, nhưng là một thái độ sống phát xuất từ nội tâm, là thứ giúp chúng ta vén mở bức màn bí mật để khám phá ra ý nghĩa của cuộc sống, là thứ có thể an ủi và nâng đỡ chúng ta trong cơn túng quẫn hay trong lúc chung quanh bị mây mù che phủ. Thánh Phaolô nói rằng: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy“. Ngài dẫn chứng bằng đức tin gương mẫu của tổ phụ Ápraham. Ông là một cột trụ điển hình của lòng tin trong Kinh Thánh. Vâng theo tiếng Chúa gọi ông sẵn sàng rời bỏ quê hương để đến một nơi mà ông sẽ lãnh nhận làm gia nghiệp, nhưng đi đến đâu ông không biết rõ! Ông luôn luôn phải tự hỏi mình nên đi đâu bây giờ? Ông cũng đã từng bị lầm đường lạc lối. Nhưng dù là chuyện gì xảy ra dọc đường đi nữa tin đối với ông có nghĩa là sống trong niềm trông cậy. “Mặc dù không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc“.

    Một gương mẫu khác được thánh Phaolô nói tới chính là bà Xara, vợ của ông Ápraham. Bà sẽ sinh đứa con như lời Chúa hứa. Bà là người son sẻ nhưng lòng dạ khô héo của bà giờ đây sẽ trổ sinh bông trái. “Nhờ đức tin, cả bà Xara vốn dĩ vốn hiếm muộn, cũng đã có thể thụ thai và sinh con nối dòng vào lúc tuổi đã cao, vì bà đã tin Đấng đã hứa là Đấng trung tín“. Đức tin của bà có nghĩa là chấp nhận đặt để vào đó với cả cuộc đời. Nhờ niềm tin, Ông Ápraham và bà Xara đã nên vững mạnh, tiếp tục sánh vai lên đường dưới sự dẫn dắt của Thiên Chúa.

    Tin có nghĩa là đứng vững vàng không nao núng và tiếp tục hành trình trong niềm trông cậy. Đức tin là nền móng vững chắc mà chân của người Kitô hữu phải bám chặt vào. Bởi vì không ai có thể dựa vào khả năng của mình để tính toán sắp đặt tất cả. Không ai có thể lường được trước những gì sẽ xảy ra trong cuộc đời mình. Không ai có thể hoàn toàn bảo đảm và đề phòng trước mọi bất trắc và những tình huống bất chợt xảy đến cho mình. Cuộc sống con người chỉ có thể phát triển đâm trồi nẩy lộc trong niềm thâm tín và bình an trong tâm hồn. Cha ông chúng ta từng nói: “An cư lạc nghiệp“ hay là “thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn“. Kẻ đánh mất niềm tin hay không có bình an trong tâm hồn sẽ sống trong thấp thỏm phập phùng, luôn bị sợ hãi vây quanh: sợ bị bỏ rơi, sợ bị hàm oan nghi kỵ, sợ sa cơ thất thế, sợ bản thân bất tài, …

    Sống đức tin có nghĩa là sống tốt đạo đẹp đời, sống tỉnh táo sáng suốt. Không giống như người nghĩ rằng Thiên Chúa là Đấng khoan dung vô bờ, chỉ cần nằm dưới gốc cây chờ sung rụng. Hoặc giống như người đầy tớ nọ, nghĩ rằng chủ mình đi vắng tha hồ chè chén say sưa, sống biếng nhác trụy lạc, … Cũng không thể nghĩ rằng chỉ cần hằng ngày đi lễ đọc kinh là đủ! Tất cả đều đáng khen nhưng chỉ mới có một nửa! Cũng có kẻ chỉ trích rằng làm như thế là “trốn việc quan đi ở chùa“! Những gì mình đón nhận từ lời rao giảng, kín múc từ lời kinh tiếng hát, phải đem áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Nói một cách khác: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết“, như thánh Giacôbê đã nói. Đức tin Kitô giáo đòi hỏi không những sự xác tín mà còn cần chứng tá trong cuộc sống hằng ngày. Sống đức tin có nghĩa là thoát ra ngoài vỏ sò của chính mình, có thể sống thong dong tự tại, sẵn sàng biết đặt mình vào hoàn cảnh của kẻ khác để đồng cảm xét đoán. Đức tin của các tổ phụ và các thánh là những bằng chứng đầy sức thuyết phục giúp chúng ta noi gương bắt chước.

    Lm.  Phêrô Trần Minh Đức

    ……………………..

    Suy Niệm 4: HÃY TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG

    A. DẪN NHẬP

    “Tỉnh thức” là hệ luận cần rút ra khi được Lời Chúa tuần trước dạy rằng mọi sự ở trần gian này đều là phù vân, tạm bợ, chỉ là những phương tiện để con người kiến tạo cho mình cuộc sống đời đời.  Ai cũng phải công nhận, cuộc sống của con người thật bấp bênh. Nhiều thi sĩ Việt nam đã diễn tả tư tưởng ấy trong thơ văn, như “Ôi nhân sinh là thế ấy ! Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao” (Nguyễn Khuyến).  Cho nên Lời Chúa hôm nay thúc bách chúng ta đừng coi thường chân lý nền tảng này : “Hãy tỉnh thức ! Hãy sẵn sàng”.

    Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Luca đã thu góp lại một số dụ ngôn của Đức Giêsu nói về việc phải “Tỉnh thức”. Đức Giêsu loan báo cho các môn đệ biết : Ngài sẽ trở lại trong ngày Quang lâm. Hãy chờ đợi ngày đó. Đồng thời Ngài cũng sẽ đến với từng người khi gọi họ ra đi khỏi đời này, và ngày đó còn được giữ bí mật, nhưng chắc chắn phải đến.  Ngày con người phải ra đi khỏi đời này là một bất ngờ như việc kẻ trộm đến lúc chủ nhà đang ngủ say. Ai cũng phải chịu nhận sự bất ngờ ấy, vì như người ta thường nói :”Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”.

    Đáp lại lời Chúa gọi trong Tin mừng hôm nay, mỗi người chúng ta phải có thái độ nào ? Chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi Chúa đến. Chúa sẽ đến với chúng ta trong ngày sau hết của đời mình vào một thời gian nào không ai biết, nhưng có một điều quan trọng là chúng ta phải “thắt lưng và cầm đèn cháy sáng trong tay” khi Chúa đến. Tỉnh thức và sẵn sàng ở đây phải có tính cách tích cực, nghĩa là  không phải cứ ngồi đấy mà chờ hay không ngủ, hoặc ăn không ngồi rồi, nhưng tỉnh thức ở đây là tư thế của một người đang làm việc với ý thức rằng mình đang đợi Chúa đến. Phúc cho chúng ta, nếu Chúa đến trong lúc chúng ta đang làm việc thì Chúa sẽ thưởng công bội hậu như ông chủ đặt đứa đầy tớ trung thành vào bàn ăn và hầu hạ nó.


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    +  Bài đọc 1 : Kn 18, 6-9.

    Sách Khôn ngoan được viết vào thế kỷ I trước công nguyên. Có lẽ tác giả viết sách này trong lúc dân Do thái ở bên Ai cập đang cử hành lễ Vượt Qua trong cảnh lưu đầy. Theo yêu cầu của những người Do thái di tản (diaspora), tác giả nhắc lại cho họ một biến cố vĩ đại, đó là việc Thiên Chúa giải phóng dân Ngài khỏi ách nô lệ Ai cập và chọn họ làm dân riêng. Đây là một kỷ niệm sâu đậm trong tâm khảm người Do thái.

    Trong bài đọc 1 hôm nay, tác giả sách Khôn ngoan khuyên họ hãy sống xứng đáng là con cháu của thế hệ đã xuất hành khỏi Ai cập bằng cách tin tưởng vào những lời hứa của Thiên Chúa.

    +  Bài đọc 2 : Dt 11,1-2. 8-9. 

    Đức tin chính là “bảo đảm cho những điều ta hy vọng”, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. Đức tin của tổ phụ Abraham là gương mẫu cho chúng ta. Tin là đi trong đêm tối nhưng đầy tin cậy và kiên nhẫn trong chờ đợi.

    Do lòng tin vào lời Chúa hứa mà tổ phụ Abraham đã rời bỏ quê hương xứ sở, ra đi mà không cần biết trước sẽ đi tới đâu. Đã có Chúa dẫn dắt. Và cũng do lòng tin, Abraham đã dám tế lễ con mình cho Chúa trong tuổi già của mình mà không nghĩ gì đến lời hứa của Chúa sẽ thực hiện ra sao .

    +  Bài Tin mừng : Lc 12,32-48.

    Thánh Luca tập hợp ở đây một loạt những yếu tố có gốc gác khác nhau, nhưng chủ đề cũng chỉ là tỉnh thức và sẵn sàng. Ta chú ý đến hai dụ ngôn chính :

    a) Dụ ngôn người đầy tớ : Công việc của người đầy tớ là phải sẵn sàng chờ ông chủ đi ăn cưới về, đó là “thắt lưng cho gọn” và “thắp đèn cho sẵn” vì không biết giờ nào chủ mới về. Tư thế đó đòi người đầy tớ khi vừa nghe thấy một tín hiệu nhỏ báo hiệu ông chủ về thì phải mau mắn phục vụ ngay. Như thế, tỉnh thức đi kèm với sẵn sàng và nhanh nhạy.

    b) Dụ ngôn người quản lý: Thánh Luca muốn dùng từ “Người quản lý” để chỉ những người lãnh đạo. Những người được Thiên Chúa giao coi sóc giáo đoàn phải trung thành phục vụ mọi người cho tới khi Chúa Quang lâm. Khi Chúa đến, những người đang phục vụ tốt sẽ được trọng thưởng; trái lại, những người lãnh đạo lơ là và biếng nhác trong việc phục vụ sẽ bị trừng phạt. Chức vụ càng cao thì hình phạt càng nặng. Ý chính của dụ ngôn này là trung thành trong nhiệm vụ được giao phó.

     C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA 

                                            Hãy tỉnh thức và sẵn sàng

    I. ĐIỀU CHÚA MUỐN DẠY HÔM NAY

    1. Phải biết sống siêu thóat

    Đức Giêsu gọi nhóm Mười Hai là “đoàn chiên bé nhỏ” bởi vì các ông chỉ là số ít, lại không có địa vị trong xã hội và sống khó nghèo, như đàn chiên giữa sói rừng, đang khi những kẻ chống đối vừa đông lại vừa mạnh. Đức Giêsu có ý động viện họ can đảm trước những khó khăn đang chờ trước mặt, nên Chúa mới gọi họ bằng một từ ngữ thân thương “Đoàn chiên bé nhỏ”. 

    Nhân dịp này, Đức Giêsu còn nhắc đến ý tưởng của Chúa nhật tuần trước : Muốn làm môn đệ phải sống siêu thoát, biết chia sẻ cho người khác. Chúa động viên các ông khi đang tích trữ làm giầu vật chất, phải biết làm giầu trước mặt Thiên Chúa nữa. Hãy sắm cho mình một kho tàng trên trời được tích trữ bằng những việc lành, bằng cách bố thí những gì mình có.

                                            Truyện : Cái lợi của tiền bạc.

    Một người có ba người bạn. Lúc bình an thì hai người bạn đầu rất là thân thiết, còn người bạn thứ ba  thì giao tình sơ sài lạnh nhạt. Chẳng may, ông ta bị bắt và bị đem ra tòa xử tội. Ông liền xin ba người bạn đi theo để biện hộ cho mình. Nhưng người thứ nhất từ chối viện cớ bận việc không đi được. Người thứ hai bằng lòng đi đến tòa án, nhưng không dám vào trong. Chỉ có người bạn thứ ba, mặc dầu không được ông ta quí lắm, lại tỏ ra trung tín và can đảm, vào tận tòa án, hăng hái biện hộ cho ông ta đến nỗi không những trắng án mà còn được ân thưởng nữa.

    Câu chuyện giúp chúng ta nhận ra rằng : người bạn thứ nhất của con người là tiền vì lúc còn sống ai cũng o bế nó, nhưng khi ta chết, nó liền bỏ rơi ta ngay và nếu nó có thương hại ta thì cũng chỉ buộc lòng  bố thí cho ta một chiếc quan tài và dăm ba cây nến, bó hoa là cùng. Còn người bạn thứ hai của con người chính là người thân trong gia đình vì khi chết đi  dù họ có thương ta bao nhiêu đi nữa thì cũng khóc lóc đôi ba lần, rồi đưa ta ra nghĩa địa chôn cất xong xuôi và lặng lẽ ra về. Riêng người bạn thứ ba của con người là các việc lành phúc đức, bố thí, vì tuy rằng lúc còn sống ta hay lơ là, khinh thường nó, đôi khi ta mắng xử tệ với nó, nhưng khi ta chết nó cương quyết theo ta đến tận tòa phán xét để bênh vực, và cuối cùng hộ tống ta vào nước thiên đàng .

    Theo như câu chuyện trên H. Cousin bình luận :”Cho người nghèo của cải mình có (dù là tất cả hay chỉ một phần nhỏ để chia sẻ), chính là làm giầu trước mặt Chúa, là xây dựng cho mình một kho tàng vô tận nơi Chúa; tóm lại, là bảo đảm cho mình một phần thưởng đời đời. Tuy nhiên, đó không phải là phần thưởng cuối cùng, nhưng biến cố Nước Chúa đến phải động viên các Kitô hữu và giúp họ dấn thân với tất cả tâm hồn, đó chính là giá trị duy nhất”.

     

    1. Phải biết tỉnh thức

    Để diễn tả sự gắn bó với Nước Trời, Đức Giêsu đã lần lượt dùng những dụ ngôn diễn tả bằng sự tỉnh thức dọn mình chết lành. Về hai dụ ngôn này, Mathhêu chỉ kể lại dụ ngôn “Ông chủ tỉnh thức” (Mt 24,43-44), Marcô chỉ lấy dụ ngôn “Đầy tớ tỉnh thức (Mc 13,33-35), còn ở đây Luca kể cả hai. Kiểu nói “Hãy thắt lưng, Hãy cầm đèn trong tay” được dùng để diễn tả tư thế đang làm việc, đang tỉnh thức. Ở đây diễn tả hành vi sẵn sàng, trong tư thế dọn mình để chờ đợi Chúa đến trong giờ chết.

    Dụ ngôn kẻ trộm cũng diễn tả yếu tố bất ngờ,  kẻ trộm chỉ có thể hành động được khi chủ nhà ngủ say, không đề phòng. Giờ chết đến cũng bất ngờ như kẻ trộm, cho nên hãy đề phòng, hãy tỉnh thức.

    Vậy tỉnh thức là gì ? 

    Tỉnh thức và sẵn sàng có thể hoán đổi cho nhau : Tỉnh thức là đang ở trong tư thế sẵn sàng và sẵn sàng cũng là lúc đang tỉnh thức, đó là lúc con người đang chuẩn bị trong mọi lúc. Được chuẩn bị không có nghĩa là hoàn thành hết mọi việc mà người ta muốn hoàn thành. Nó có nghĩa là phải sống trung thực với trách nhiệm của mình trong giây phút hiện tại.

    Tỉnh thức không có nghĩa là không ngủ mà là ngủ trong thức tỉnh. Tỉnh thức không phải là ngồi không mà chờ đợi, nhưng vẫn làm như thường trong tư thế chờ đợi. Có những người tỉnh thức trong kinh kệ, trong nghĩa vụ đạo đức, nhưng lại ngủ mê trong những đòi hỏi của Tin mừng. Tỉnh thức cũng không phải là suốt ngày đọc Lời Chúa, nhưng là để Lời Chúa chi phối đời mình.

    Hay nói cách khác, tỉnh thức của chúng ta  là ý thức rằng sống là để yêu thương và phục vụ. Đây chính là ý nghĩa đích thực  mà Đức Giêsu nói đến trong bài Tin mừng hôm nay.

    1. Phải biết trung thành

    Trong huấn dụ về sự tỉnh thức, Chúa đã dạy chúng ta trong Tin mừng :”Hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, hãy làm như người đợi ông chủ đi ăn cưới về, để khi chủ gõ cửa thì mở ngay cho chủ”. Nhiệm vụ của người đầy tớ  phải đứng chờ ông chủ về là nhiệm vụ chính yếu, người đầy tớ phải hết sức cẩn thận, không được lơ là trong một giây phút. Do đó, Chúa cũng dạy chúng ta phải trung thành trong những việc đã được trao phó, việc lớn hay việc nhỏ không quan trọng, việc quan trọng là làm tròn trách nhiệm trong ý thức, làm nhiệt tình và thực lòng chứ không vì miễn cưỡng. Việc ông chủ có hiện diện ở đấy hay không cũng không quan trọng mà cái quan trọng là lúc nào cũng làm việc một cách đầy đủ như ông chủ đang có mặt.

                                            Truyện : Vườn hoa xinh đẹp.

    Tại Thụy sĩ, có một vườn hoa tuyệt đẹp, đủ loại hoa, đủ mầu sắc. Nằm giữa vườn là một vườn hoa tráng lệ. Nhìn vườn hoa với cảnh phối trí, cắt tỉa, uốn nắn… ai cũng phải công nhận đã có một sự chăm sóc kỹ lưỡng, kèm theo một óc thẩm mỹ hiếm có của người chủ vườn. Một du khách đi qua đây, thoáng nhìn ông đã thấy như say mê. Giữa lúc đó, người làm vườn bước ra. Chủ khách chào hỏi lẫn nhau. Rồi từ chuyện hoa cỏ, cách chăm bón, trồng tỉa, sự phối hợp mầu sắc… câu chuyện đi đến chỗ thân tình.

    Du khách hỏi :
    – Xin lỗi cụ, cụ ở đây được bao lâu rồi ?
    – Khoảng 40 năm rồi.
    – Tôi đoán, có lẽ ông chủ của cụ rất sành về nghề cảnh, chắc giờ này ông có nhà ?
    – Ông ta không có ở đây, thỉnh thoảng mới ghé qua đây thôi.
    – Ông có thư từ gì với cụ không ?
    – Không, ông ta bận lắm.
    – Ông ta không về cũng không thư từ, thì ai trả lương cho cụ ?
    – Hàng tháng tôi chỉ nhận được ngân phiếu từ ông ta  để chi phí mọi sự cho khu vườn này.
    – Thế tội gì ông phải săn sóc kỹ lưỡng thế này, ông chủ có mấy khi đến thưởng ngoạn đâu ?
    – Tôi thì lại không nghĩ thế, mình là một gia nhân được chủ tín nhiệm trao phó việc bảo quản khu vườn này, mình phải tận tụy chứ lúc nào ông chủ về cũng được, ông sẽ hài lòng với công việc của tôi. Hơn nữa, khi làm đẹp khu vườn cho chủ, chính tôi cũng được thưởng ngoạn cảnh đẹp  do chính tay mình làm nên.

    II. ĐÁP LẠI LỜI CHÚA DẠY 

    1. Hãy dọn mình chết lành

    Đức Giêsu gợi ý để chúng ta quan niệm cuộc đời mình như một cuộc hẹn gặp của tình yêu : Hãy chuẩn bị lòng mình cho một người đang đến. Thiên Chúa đang đến. Đức Giêsu đã loan báo Ngài sẽ trở lại trong ngày sau hết, trong ngày Quang lâm : Maranatha : Xin Chúa hãy đến. Đối với mỗi người, cái chết không thể tránh khỏi có thể được coi như cuộc gặp gỡ “mặt đối mặt” với Đấng Chí Ái.

    Sự sống con người thật bấp bênh, có thể kết thúc bất cứ lúc nào. Trong tất cả mọi chuyến bay, khi máy bay vừa cất cánh và đã ổn định đường bay, các tiếp viên hàng không đều chỉ dẫn cho hành khách  phải làm những gì khi rủi mà máy bay gặp tai nạn. Sự việc này có nghĩa là mặc dù chuyến bay đã được chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng, nhưng người ta cũng chưa dám chắc là sẽ an toàn 100%, do đó, phải chuẩn bị đối phó với việc bất ngờ.

    Cũng thế, chẳng ai biết Chúa hẹn mình đâu, trong biến cố nào, nhưng chắc chắn cuộc hẹn phải có. Chẳng ai biết giờ chết của mình lúc nào, nhưng chắc chắn giờ ấy sẽ đến. Chỉ sợ chúng ta có ảo tưởng hết sức nguy hiểm này  là mình vẫn còn thời gian. Cái ngày kinh hoàng nhất của một đời người là mình tưởng còn “ngày mai” để chuẩn bị, nhưng lại phải đối diện với một thực tế rất đỗi phũ phàng “ngày mai” ấy không bao giờ đến. Người ta có ai ngờ rằng với hai quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki bên Nhật hồi tháng 8 năm 1945 đã tiêu diệt một lúc 147.000 nhân mạng trong giây lát ?

                                  Truyện : Thiệt hại trong thế chiến II.

    Theo đài phát thanh Tòa thánh ngày 1.9.1951 dựa vào bản thống kê của Liên hiệp quốc trong đệ nhị thế chiến, số người chết như sau :

    – 32 triệu người chết trong các mặt trận.
    – 25 triệu người chết trong các trại giam.
    – 15 đến 25 triệu thanh thiếu niên, người già trẻ nít chết vì bom đạn.
    – 25 triệu người mất hết tài sản.
    – 45 triệu người phải di tản hoặc lánh nạn hoặc đi đầy.

    Tất cả những người chết đó có tưởng mình sẽ chết không ? Nếu tài sản chúng ta mất quá dễ dàng như vậy thì hãy tìm bám vào  những cái bền vững hơn.

    Không ai muốn chết, ai cũng muốn sống mãi, nhưng thực tế không cho phép. Kẻ trước người sau mỗi người sẽ phải ra đi khỏi cõi đời này như kinh nghiệm của Văn Thiên Trường ngày xưa đã nói :

                                            ”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
                                            lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” ?
    Con người từ xưa đến nay ai mà không chết,
    phải cố mà giữ lấy tấm lòng thanh.

    Ngày xưa, có một người pha trò trong cung đình. Trong nhiều năm liền đã giúp việc mua vui cho nhà vua và triều đình. Nhưng rồi ông đã phạm phải  một hành động thiếu suy xét và bị kết tội chết. Trước khi bản án được thi hành, nhà vua gọi ông ta đến và nói :”Vì nhiều lần ngươi đã đem lại cho trẫm những giờ phút vui vẻ trong bao năm qua, nên trẫm sẽ ban cho ngươi được chọn cách mà ngươi phải chết”.
    Người pha trò suy nghĩ một lúc rồi đáp :”Thưa Hoàng thượng, ngài thật là chí lý, kẻ tôi tớ này xin chọn cách chết bởi tuổi già”.
    Nhà vua thấy rất vui vì lời đáp ấy đến nỗi ngài đã chiếu cố đến lời cầu xin của ông ta.
    Phần lớn chúng ta đều muốn chọn lựa như thế. Nhưng chúng ta không biết  liệu chúng ta có được hay không.

    1. Phải tỉnh thức thế nào ? 

    Thái độ cơ bản của người Kitô hữu là tỉnh thức. Người Kitô hữu phải tỉnh thức vì biết rằng mỗi khoảnh khắc đều mang một ý nghĩa đối với một giai đọan hoặc cần thiết cho sự trưởng thành, mỗi biến cố đều mang nặng sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa.

    Tỉnh thức là tình trạng đang luôn luôn  làm nhiệm vụ. Thi sĩ Tagore nói :”Tôi nằm ngủ và mơ thấy đời sống là một niềm vui. Tôi thức dậy và tôi thấy đời là bổn phận. Tôi hành động và tôi thấy bổn phận là niềm vui”. 

    Khi ông Dag Hammarskjold bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai của chức vụ Tổng thư ký Liên hiệp quốc, ông đã đọc một bài diễn văn cảm tạ. Trong bài diễn văn ấy, ông trích dẫn câu thơ của một thi sĩ Thụy điển:”Phải chăng sẽ đến ngày mà niềm vui sẽ lớn và nỗi buồn phiền sẽ nhỏ”. Và ông nói thêm câu trả lời của riêng ông :”Đến ngày mà chúng ta cảm thấy mình sống với một bổn phận đã hoàn thành và đáng làm, ngày ấy niềm vui sẽ lớn và chúng ta có thể coi  sự buồn phiền là chuyện nhỏ”.

    Chúng ta không biết và không đoán được giờ chết của chúng ta vì giờ chết được giấu kín. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không phải là chúng ta chết lúc nào và như thế nào mà là chúng ta sống như thế nào. Chúng ta có cố gắng sống viên mãn và nhiệt tình và không chờ khi bệnh tật hoặc tai họa mới nhận ra  bản chất bấp bênh của đời sống con người.

    Tỉnh thức là biết sống mọi giây phút hiện tại cho đầy đủ, đừng để phí đi một giây phút nào qua đi trong vô ích vì thời giờ là cái vốn mà Chúa ban cho chúng ta  để làm sinh sôi nảy nở ra các việc lành phúc đức.

    Một tác giả nào đó đã cho chúng ta những lời khuyên chân thành và thực tế về giá trị của những giây phút hiện tại trong cuộc sống trần gian như sau :

    Để nhận ra giá trị của một năm : Hãy hỏi một học sinh thi rớt cuối năm.
    Để nhận ra giá trị của một tháng : Hãy hỏi một người mẹ sinh con thiếu tháng.
    Để nhận ra giá trị của một tuần : Hãy hỏi người chủ bút của tờ tuần báo.
    Để nhận ra giá trị của một ngày :  Hãy hỏi công nhân lao động phải nuôi 10 đứa con.
    Để nhận ra giá trị của một giờ :  Hãy hỏi những tình nhân phải chờ đợi nhau.
    Để nhận ra giá trị của một phút : Hãy hỏi người vừa trễ chuyến xe lửa, hay xe búyt.
    Để nhận giá trị của một giây : Hãy hỏi người vừa thóat khỏi tai nạn.
    Để nhận ra giá trị của một sao : Hãy hỏi nhà thể thao Olympic được huy chương bạc.
    Và sau cùng để nhận ra giá trị của một đời người : Hãy hỏi, ai sẽ khóc trong buổi tang lễ của bạn .

    1. Đã chuẩn bị sẵn sàng chưa?
      Đại tướng Marc Arthur sau đệ nhị thế chiến, với tư cách của một tướng lãnh già dặn kinh nghiệm trong binh pháp, có nói :”Lịch sử của những thảm bại trong chiến tranh có thể tóm gọn trong hai chữ :”Quá muộn”. Quá muộn vì chưa sẵn sàng. Quá muộn vì chưa chuẩn bị đủ.
      Có lẽ vị tướng này đã từng nghiền ngẫm câu nói của một danh tướng thời La mã xưa để làm cẩm nang cho việc điều hành chiến tranh :”Si vis pacem, para bellum” : Nếu muốn được bình yên, phải chuẩn bị chiến tranh.
      Và thời xưa người Trung quốc cũng đã từng có tư tưởng như vậy :Bình thời luyện vũ, lọan thế độc thư” : Thời bình thì phải lo luyện võ, thời lọan thì phải lo đọc sách.  Nói như vậy là người ta khuyến cáo họ, lúc bình yên thì đừng ngồi không đấy mà hưởng thụ, mà phải luyện võ, phải chuẩn bị chiến tranh, để khi chiến tranh xẩy đến thì đã sẵn sàng, đã chuẩn bị  để đối đầu với mọi tình huống bất trắc có thể xẩy ra.
      Đối với giờ chết cũng vậy, đang lúc sống thì phải nghĩ đến lúc chết để đề phòng. Nếu ai đã từng chuẩn bị cho giờ chết thì họ sẽ bình tĩnh trong giờ chết, họ bình tĩnh chờ đợi cho giờ ấy xẩy đến vì họ coi mình như nắm chắc được phần rỗi, vì người ta đã khẳng định rằng :”Sống sao chết vậy”.
      Nhưng chúng ta hay có ảo tưởng rằng giờ chết còn xa, chưa cần phải chuẩn bị gấp, họ chưa hiểu được câu ngạn ngữ dân gian :”Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”, vì thế họ cứ từ từ, chờ đến tuổi già mới chuẩn bị. Nhưng ai biết được chữ “ngờ”, ai ngờ được kẻ trộm đến lúc mình không tỉnh thức.
      Một nhà văn hào kể một câu truyện giả tưởng. Satan họp đại hội thảo luận phương thức chiếm đoạt các linh hồn. Nhiều ý kiến của các cấp quỉ được phát biểu. Nhưng ý kiến được đại hội tán đồng là của một quỉ già đầy kinh nghiệm. Đó là rỉ tai câu này : Gấp gì, còn kịp chán, để gần chết rồi ăn năn trở lại, hãy sống vui đã !
      Chúng ta còn trẻ hay đã già, khỏe mạnh hay đau yếu, điều đó không quan trọng, nhưng quan trọng ở chỗ là chúng ta đang sống thế nào ? Đang tỉnh thức hay ngủ mê ? Có biết chu tòan nhiệm vụ được trao phó không ?

                                  Truyện : Cứ tiếp tục họp

    Một ngày nọ vào năm 1780 bỗng dưng cả vùng tiểu bang Connecticut bị tối hẳn lại. Ai nấy đều cho rằng đã đến ngày tận thế. Khi đó hội đồng lập pháp tiểu bang đang họp. Nhiều người yêu cầu hoãn cuộc họp để họ có thể về nhà cùng với gia đình chờ Chúa đến.  Nhưng ông chủ tịch nói :”Không biết hôm nay có phải là tận thế không : nếu không thì không cần hoãn họp.  Còn nếu phải thì chúng ta càng cần chu tòan nhiệm vụ hơn nữa. Xin thắp nến lên” (Drinkwater).
    Ai cũng muốn chết trong sự bình an. Chớ gì những giây phút cuối cùng chuẩn bị đi vào đời sau, ta cảm thấy Chúa ở gần như người mẹ ấp ủ con. Lúc đó ta thưa với Chúa rằng :”In manus tuas , Domine, commendo spritum meum” : Lạy Chúa, con xin phó dâng hồn con trong tay Chúa. Chớ gì tâm hồn ta được bình an, thảnh thơi như đứa con nằm trong tay mẹ hiền để say trong giấc ngủ ngon lành.|
    Một bà mẹ kể : tối đó, khi tôi đang dọn giường cho đứa con nhỏ, nó thỏ thẻ :”Mẹ ơi, mẹ ở với con khi con ngủ nhé”! Nghĩ đến bao việc nhà chưa làm sau một ngày ở sở, tôi đã tính ra ngoài để nó ngủ một mình. Chợt một ý tưởng nảy ra trong trí, tôi đến nằm bên con, đặt tay con trong tay mình. Và trong lúc đứa con chìm vào giấc mộng, ý tưởng đó biến thành lời nguyện :”Lạy Chúa, xin giúp con sống thế nào để khi bước vào hoàng hôn cuộc đời, con có thể âu yếm nói với Cha trên trời :”Cha ơi, Cha ở với con khi con ngủ nhé”

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com