Thêm

    CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN/ C

    BÀI ĐỌC I: St 18, 20-32

    Trong những ngày ấy, Chúa phán: “Tiếng kêu la của dân Sôđôma và Gômôra đã gia tăng, và tội lỗi chúng quá nặng nề! Ta sẽ xuống coi việc chúng làm có như tiếng kêu thấu đến tai Ta hay không, để Ta sẽ biết rõ”.

    Các vị ấy bỏ nơi đó, đi về hướng thành Sôđôma. Nhưng Abraham vẫn còn đứng trước mặt Chúa. Ông tiến lại gần Người và thưa: “Chớ thì Chúa sắp tiêu diệt người công chính cùng với kẻ tội lỗi sao? Nếu có năm mươi người công chính trong thành, họ cũng chết chung hay sao? Chúa không tha thứ cho cả thành vì năm chục người công chính đang ở trong đó sao? Xin Chúa đừng làm như vậy, đừng sát hại người công chính cùng với kẻ dữ! Xin đừng làm thế! Chúa phán xét thế giới, Chúa không xét đoán như thế đâu”. Chúa phán cùng Abraham rằng: “Nếu Ta tìm thấy trong thành Sôđôma năm mươi người công chính, Ta sẽ vì họ mà tha thứ cho cả thành”. Abraham thưa lại: “Dù con chỉ là tro bụi, con đã bắt đầu nói, nên con xin thưa cùng Chúa. Nếu trong số năm mươi người công chính đó còn thiếu năm người thì sao? Vì bốn mươi lăm người công chính, Chúa có tàn phá cả thành không?” Chúa phán: “Nếu Ta tìm thấy bốn mươi lăm người công chính, Ta sẽ không phá huỷ cả thành”. Abraham lại thưa cùng Chúa rằng: “Nhưng nếu có bốn mươi người thì Chúa sẽ làm gì?” Chúa phán: “Ta sẽ vì bốn mươi người đó mà không trừng phạt cả thành”. Abraham thưa: “Lạy Chúa, nếu con lên tiếng, xin Chúa đừng nổi giận. Nếu ở đây tìm được ba mươi người công chính thì sao?” Chúa phán: “Nếu Ta tìm được ba mươi người, Ta sẽ không phạt”. Abraham nói: “Vì con đã trót nói thì con sẽ thưa cùng Chúa: Nếu trong thành tìm được hai mươi người công chính thì sao?” Chúa phán: “Vì hai mươi người đó Ta sẽ không tàn sát”. Abraham thưa: “Lạy Chúa, xin đừng nổi giận, con chỉ xin thưa lần này nữa thôi: Nếu tìm được mười người công chính ở đó thì sao?” Chúa phán: “Vì mười người đó, Ta sẽ không tàn phá”.

    BÀI ĐỌC II: Cl 2, 12-14

    Anh em thân mến, nhờ phép rửa tội, anh em đã được mai táng làm một với Đức Kitô, anh em cũng được sống lại với Người, bởi đã tin vào quyền năng Thiên Chúa, Đấng đã cho Người từ cõi chết sống lại. Anh em vốn đã chết vì tội lỗi anh em và bởi không cắt bì tính xác thịt của anh em, nhưng Thiên Chúa đã cho anh em được chung sống với Người, Người đã ân xá mọi tội lỗi chúng ta, đã huỷ bỏ bản văn tự bất lợi cho chúng ta, vì làm cho chúng ta bị kết án; Người đã huỷ bỏ bản văn tự đó bằng cách đóng đinh nó vào thập giá.

     

    PHÚC ÂM: Lc 11, 1-13

    Ngày kia, Chúa Giêsu cầu nguyện ở một nơi kia. Khi Người cầu nguyện xong, có một môn đệ thưa Người rằng: “Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện như Gioan đã dạy môn đệ ông”. Người nói với các ông: “Khi các con cầu nguyện, hãy nói: ‘Lạy Cha, nguyện xin danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày. Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha mọi kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ'”. Và Người còn bảo các ông rằng: “Nếu ai trong các con có người bạn, giữa đêm khuya đến nói với người ấy rằng: ‘Anh ơi, xin cho tôi vay ba chiếc bánh, vì tôi có anh bạn đi đường ghé lại nhà tôi, mà tôi không có gì thết đãi anh ấy’. Và từ trong nhà có tiếng người ấy đáp: ‘Xin đừng quấy rầy tôi, vì cửa đã đóng, các con tôi và tôi đã lên giường nằm rồi, tôi không thể chỗi dậy lấy bánh cho anh được’. Thầy bảo các con, dù người đó không dậy vì tình bạn để lấy bánh cho người bạn, người đó cũng sẽ dậy, ít nữa là vì sự quấy rầy của người kia mà cho anh ta tất cả những gì anh ta cần. “Và Thầy bảo các con: Các con hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gõ thì sẽ mở cho. “Người cha nào trong các con có đứa con xin bánh mà lại cho nó hòn đá ư? Hay nó xin cá, lại cho nó con rắn thay vì cá sao? Hay nó xin quả trứng, lại cho nó con bọ cạp ư? Vậy, nếu các con là những kẻ gian ác, còn biết cho con cái mình những của tốt, phương chi Cha các con trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người”.

     

    Suy Niệm 1: TA NÊN CẦU XIN GÌ VÀ CẦU XIN THẾ NÀO

    Dân thành Sôđôma đầy tội lỗi. Thiên Chúa có ý định giáng phạt. Abraham cố thuyết phục Chúa khoan hồng cho họ. Mẩu đối thoại giữa Abraham với Thiên Chúa thật gay cấn và căng thẳng. Từ điều kiện ban đầu Abraham tự nêu ra là 50 người công chính, cuối cùng đã giảm xuống chỉ còn 10 người thôi – Thiên Chúa vẫn đồng ý. Cú ‘mặc cả’ cuối cùng ấy xem chừng gay go lắm, đến nỗi Abraham phải rào đón thật kỹ: “Lạy Chúa, xin đừng nổi giận, con chỉ xin thưa lần này nữa thôi”… (x. St 18,20-32).

    Nhưng mặt khác, đó cũng là một cuộc trò chuyện thật thân tình gần gũi. Abraham phải cảm nghiệm tương quan gần gũi với Chúa thì mới đi vào được một cuộc trò chuyện như thế. Quả thật, Abraham được gọi là người ‘bạn’ của Thiên Chúa! Cần nhắc lại, trong cuộc điều đình này, Abraham đưa ra lời khẩn nài nào cũng được Chúa đồng ý cả. Chúa thật bao dung, thật dễ chạnh lòng – như cảm nghiệm của Thánh vịnh 137 (Đáp ca): “Lạy Chúa, khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con… Lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời”!

    Cảm nghiệm về “lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời” cùng với câu chuyện Abraham khẩn nài Thiên Chúa trên kia là cửa ngõ tốt để chúng ta đi vào giáo huấn của Chúa Giêsu về cầu nguyện trong bài Tin Mừng theo thánh Luca (x. Lc 11,1-13). Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện chính Chúa Giêsu dạy, bao quát tất cả những ơn xin tốt đẹp nhất, hài lòng Thiên Chúa nhất (vì trọng tâm là xin cho Triều đại Thiên Chúa được hiện thực). Vì thế, không bao giờ phải sợ lời cầu nguyện ấy làm cho Thiên Chúa nổi giận (như nỗi e ngại không tránh được nơi Abraham).

    Hơn nữa, từ câu chuyện người bạn xin bánh lúc nửa đêm, Chúa Giêsu đã đúc kết rằng “hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ, thì cửa sẽ mở cho”. Không có một bảo kê nào chắc chắn hơn thế cho các lời cầu xin của chúng ta, bao lâu chúng ta xin những điều tốt thực sự cho mình (tốt theo cái nhìn thượng trí của Thiên Chúa, dĩ nhiên).

    Cuối cùng, đâu là sự bảo kê của Chúa Giêsu cho lời cầu xin của chúng ta: “hãy xin, sẽ được”! Không đâu khác mà sự bảo kê ấy được thực hiện đầy đủ và dứt khoát cho bằng Thập giá, tức cái chết và sự chiến thắng cái chết của Chúa Giêsu. “Anh em đã được mai táng làm một với Ðức Kitô, anh em cũng được sống lại với Người, bởi đã tin vào quyền năng Thiên Chúa, Ðấng đã cho Người từ cõi chết sống lại” (x. Cl 2,12-14). Nói cách khác, chính Chúa Giêsu bảo kê cho hiệu quả lời cầu nguyện của chúng ta, bằng Mầu nhiệm Vượt qua của Người. Không gì chắc chắn hơn!

    Vì thế, bạn hãy mạnh dạn cầu xin Cha trên trời về bất cứ nhu cầu nào mà bạn tin là tốt lành cho bạn và/hoặc cho người khác. Bất cứ điều tốt lành nào cũng được hàm chứa trong lời Kinh Lạy Cha, ta hiểu vì sao Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện tổng hợp và chính thức của Giáo hội.

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

     

    ……………………………………..

    Suy Niệm 2: KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN SẼ ĐƯỢC NHẬN LỜI

    Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta suy gẫm về thái độ khi cầu nguyện. Một trong những thái độ cần thiết đó là phải “cầu nguyện luôn.” Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta câu chuyện về Ápraham đối thoại với Thiên Chúa hầu xin Ngài không hủy diệt thành Xơđôm và Gômôra. Để cảm nghiệm được vẻ đẹp cuộc đối thoại này và thấy được thái độ “chậm giận và giàu tình thương của Chúa,” chúng ta cùng nhau viết lại cuộc đối thoại như sau:

    Ápraham: “Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao? Ngài làm như vậy, chắc không được đâu! Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao?” (St 18:24-25).

    Đức Chúa: “Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó” (St 18:26).

    Ápraham: “Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa: Giả như trong số năm mươi người lành lại thiếu mất năm, vì năm người đó, Ngài sẽ phá huỷ cả thành sao?” (St 18:27-28).

    Đức Chúa: “Không! Ta sẽ không phá huỷ, nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người” (St 18:28).

    Ápraham: “Giả như trong thành tìm được bốn mươi người thì sao?” (St 18:29).

    Đức Chúa: “Vì bốn mươi người đó, Ta sẽ không làm” (St 18:29).

    Ápraham: “Xin Chúa đừng giận, cho con nói tiếp: Giả như ở đó có ba mươi người thì sao?” (St 18:30).

    Đức Chúa: “Nếu Ta tìm được ba mươi người, Ta sẽ không làm” (St 18:30).

    Ápraham: “Con xin mạn phép thưa với Chúa: Giả như tìm được hai mươi người thì sao?” (St 18:31).

    Đức Chúa: “Vì hai mươi người đó, Ta sẽ không phá huỷ” (St 18:31).

    Ápraham: “Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao?” (St 18:32).

    Đức Chúa: “Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơđôm” ((St 18:32).

    Đọc đoạn đối thoại này, chúng ta thấy thái độ của Ápraham thay đổi mỗi khi ông xin Chúa. Nhưng Thiên Chúa vẫn luôn trả lời với trọn tình thương. Câu hỏi chúng ta đặt ra ở đây là: Phải chăng Ápraham dừng cầu xin quá sớm? Nếu ông tiếp tục cầu xin cho đến khi chỉ tìm được một người công chính [ông Lót, cháu ông] để Chúa không tiêu diệt Xơđôm, chắc chắn Chúa sẽ ban cho ông điều ông xin. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng xin Chúa cho mình hoặc người thân được khỏi bệnh, xin cho mình và người thân được ơn như ý. Nhưng cầu nguyện hoài mà chẳng thấy Chúa nhận lời. Vì vậy, chúng ta bỏ cuộc. Nhiều người bỏ đức tin vì điều mình xin không được ban. Chúng ta thấy trong bài đọc 1 điều Ápraham xin không được ban. Xơđôm vẫn bị phá huỷ. Nhưng không vì thế mà ông đánh mất niềm tin vào Chúa.

    Đề tài cầu nguyện liên lỉ được tiếp tục trình bày trong bài Tin Mừng hôm nay. Thánh Luca trình bày Chúa Giêsu như mẫu gương cầu nguyện: “Một hôm, Đức Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: ‘Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dạy môn đệ của ông’” (Lc 11:1). Những lời này chỉ cho chúng ta thấy rằng đời sống cầu nguyện của Chúa Giêsu có một sức thu hút mãnh liệt. Nói cách khác, các môn đệ bị cuốn hút bởi mối tương quan thân tình với Thiên Chúa được diễn tả qua đời sống cầu nguyện của Ngài. Điều này làm chúng ta xét lại chính đời sống cầu nguyện của mình. Cầu nguyện là cách thức diễn tả mối tương quan đầy yêu thương với Thiên Chúa. Qua cầu nguyện, chúng ta bị cuốn hút vào trong vẻ đẹp, tình yêu và sự trung thành của Thiên Chúa.

    Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể phân ra ba phần: phần 1 (Lc 11:2-4) chứa đựng nội dung cầu nguyện mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ [chúng ta]; trong phần 2 (Lc 11:5-8), Chúa Giêsu kể cho các môn đệ một dụ ngôn nhằm dạy các ông về sự kiên trì trong cầu nguyện; và phần 3 (Lc 11:9-13) trình bày cho chúng ta lời hứa.

    Lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ chính là lời cầu nguyện Ngài sử dụng hằng ngày để đối thoại với Chúa Cha. Chúng ta gọi lời cầu nguyện này là Kinh Lạy Cha: “Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều Đại Cha mau đến, xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy; xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con, và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ.” Lời kinh này diễn tả hai chiều kích của cầu nguyện, đó là quy thiên hoặc quy tha, hay đúng hơn là hai chuyển động của tình yêu: yêu Chúa và yêu người. Chúng ta thấy chiều kích quy thiên [yêu Chúa] được diễn tả trong hai lời nguyện: làm cho danh Thánh Cha vinh hiển và Triều Đại Cha mau đến. Trong khi đó, khía cạnh quy tha [yêu người] được diễn tả trong lời cầu cho lương thực nuôi dưỡng thân xác [ngày nào có lương thực ngày ấy] và lương thực cho đời sống thiêng liêng [được ơn tha tội, có khả năng tha cho người khác, và không sa chước cám dỗ].

    Tuy nhiên, cầu nguyện không chỉ được thực hiện theo cảm tính tự nhiên, tức là chỉ làm khi mình thích hoặc khi điều mình xin được ban cho. Chúa Giêsu qua dụ ngôn người bạn đến mượn đồ, chỉ ra cho chúng ta một đức tính cần thiết cho đời sống cầu nguyện, đó là sự kiên nhẫn và khiêm nhường. Chúng ta cũng có thể nói rằng: sự kiên nhẫn và khiêm nhường này là hệ quả của việc nhận ra rằng mình không thể tự đủ, mình cầu đến Chúa và ơn thánh của Ngài. Lời kết luận của Chúa Giêsu sau khi kể về dụ ngôn đáng làm chúng ta quan tâm: Thầy nói cho anh em biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó” (Lc 11:8). Chúa Giêsu muốn chúng ta “lì ra đó” khi đến cầu nguyện với Ngài, nhất là trong lời cầu nguyện van xin. Kiên nhẫn cho đến khi chúng ta được ban cho những gì mình cần. Đây chính là điều Ngài nhắm để khi hứa với các môn đệ về việc họ sẽ được ban cho những gì họ xin.

    Những lời Chúa Giêsu hứa với các môn đệ dường như không thường đi với thực tế. Nhiều người trong chúng ta đã kinh nghiệm thấy mình xin mà không đượx, tìm mà không thấy, gõ cửa mà không được mở. Hệ quả là tình cảm chúng ta dành cho Chúa ngày càng nhạt đi. Tuy nhiên, khi đọc kỹ những lời sau, chúng ta sẽ nhận ra một điều rất tuyệt diệu trong lời hứa của Chúa Giêsu: “Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Lc 11:11-13). Trong những lời này, chúng ta thấy Chúa Giêsu hứa ban cho các môn đệ không phải những gì họ xin [họ muốn], nhưng ban cho họ Thánh Thần. Trong Tin Mừng Thánh Luca, Thánh Thần là món quà quan trọng nhất mà Chúa Giêsu hứa ban cho các môn đệ. Đây là món quà mà Chúa Giêsu Phục Sinh sẽ ban cho các môn đệ, những người sợ hãi và buồn sầu. Món quà Chúa Thánh Thần tổng hợp hết tất cả những gì mà Chúa Giêsu ban cho các môn đệ của mình: Niềm vui, sức mạnh, can đảm để làm chứng cho tình yêu vô điều kiện và trung thành của Thiên Chúa. Như vậy, đối với Thánh Luca, món quà quan trọng nhất mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta là Chúa Thánh Thần, Đấng giúp chúng ta có đủ can đảm để làm chứng cho Chúa Giêsu ngay cả khi phải đối diện với khó khăn, chống đối và cái chết. Cầu nguyện không phải là để được ban cho những gì mình muốn, nhưng được ban cho niềm vui để theo Chúa và sự can đảm để làm chứng cho Ngài trong đời sống hằng ngày. Để làm được điều đó, Thánh Phaolô trong bài đọc 2 nhắc nhở chúng ta về việc chúng ta “đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết” (Cl 2:12). Trong phép rửa, chúng ta đã chết cho con người hay sa ngã, để chỉ sống với Đức Kitô. Nhưng sống với Đức Kitô là sống trong Thiên Chúa, sống một đời sống hợp nhất [nên một] với Thiên Chúa.

    Lm. Anthony, SDB.

     

    ………………………………

    Suy Niệm 3: Cầu xin và cầu nguyện

    Phải chăng cầu nguyện là cuộc nói chuyện với Chúa? Giống như cuộc đối thoại của ông Abraham với Chúa hay thậm chí có thể đàm phán giống như một đối tác? Theo nguyên tắc thì cầu nguyện không phải là một cuộc đốt thoại vì Thiên Chúa, Đấng đối diện với chúng ta, không trả lời. Đó là những lời thổn thức mà chúng ta dâng lên Chúa trong niềm hy vọng sẽ được Chúa lắng nghe. Nỗi khao khát mong được Chúa lắng nghe còn được thể hiện rõ nét hơn qua những lời khấn xin hay qua những cuộc hành hương. Có lẽ nhiều khi chúng ta có cảm giác lời cầu xin của chúng ta không được Chúa nhậm lời. Đức Giêsu đã từng dặn dò chúng ta: „Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho“. Phải chăng thay vì là người công giáo, chúng ta lại sống như một phần tử Cái bang chỉ biết mở miệng xin thôi! Hay là chúng ta cầu xin không đúng cách?

    Đây có lẽ cũng là trải nghiệm của các môn đệ của Đức Giêsu. Họ cũng thường chứng kiến hình ảnh toả sáng của Đức Giêsu trong lúc cầu nguyện. Hình ảnh ấy có sức rung động làm cho họ phải thốt lên lời thán phục, cho nên các ông xin Đức Giêsu dạy cho họ cách cầu nguyện. Thánh sử Luca tường thuật rằng, Đức Giêsu dạy cho họ „Kinh Lạy Cha“ nhưng đây chỉ là bản vắn tắt. Chúng ta thường đọc bản Kinh Lạy Cha theo thánh sử Mátthêu. Thiên Chúa đã biết trước những gì chúng ta cần cho cuộc sống cho nên chúng ta trước tiên phải cầu xin những gì thuộc về Thiên Chúa: „Xin làm cho danh Cha vinh hiển, Triều đại Cha mau đến“. Chúng ta thường đọc Kinh Lạy Cha trước khi dùng bữa. Trước những nhu cầu cần thiết cho thể xác chúng ta cảm nếm một của ăn quan trọng hơn cho tâm hồn. Chính Đức Giêsu cũng nói: Lương thực của Ta chính là thực thi ý của Chúa Cha. Bởi vậy Ngài đã đặt Thiên Chúa lên vị trí ưu tiên trước những nhu cầu riêng tư. Sách thánh ca ở nước Đức mang tựa đề „Lời Chúc Tụng Chúa“ và trong một bài hát có một đoạn ghi: Ca tụng Chúa là sứ mạng của chúng ta. Trong Kinh tiền tụng chung IV còn nói: „Chúa không cần chúng con ca tụng, nhưng việc chúng con cảm tạ Chúa lại là một hồng ân Chúa ban“.

    Đức Giêsu khuyên chúng ta đừng dại dột chấp nhận thân phận làm đệ tử Cái bang, suốt ngày chỉ biết mở miệng cầu xin, nhưng hãy sống với thân phận làm con, những tạo vật mới đã được Thiên Chúa cứu chuộc. Bởi vậy hãy biến cuộc sống của chúng ta thành một lời ca tụng, một lời nguyện. Từ lời chúc tụng lúc sáng tinh mơ, đến việc xin Chúa thánh hoá những của ăn và sau cùng là lời cảm tạ khi nhìn lại một ngày đã qua trước khi chìm vào giấc ngủ. Khi chúng ta đã chu toàn và hoàn trả lại những gì thuộc về Thiên Chúa thì dĩ nhiên chúng ta được phép xin những gì chúng ta cần. Ở Đức có câu thành ngữ: „Khó khăn dạy cầu nguyện!“ Khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn tật bệnh con người dễ dàng chạy đến cùng Chúa. Khi phải chạy ngược chạy xuôi tìm thầy tìm thuốc mà vẫn vô phương, con người chỉ biết phó thác khấn xin. Chúng ta không những cần cơm áo bạc tiền mà còn cần một tâm hồn thanh thản vì được thứ tha, không còn bị gánh nặng do tội lỗi đè nén. Khi tạo dựng nên con người Thiên Chúa muốn chúng ta sống hạnh phúc, nhưng lòng tham không đáy và tính xác thịt yếu đuối đã ngày càng làm chúng ta lầm đường lạc lối. Chúng ta may mắn vì mỗi ngày có thể bắt đầu lại trong mối tương quan với Chúa và tha nhân, nhưng chả mấy chốc lại bị lún sâu vào vũng bùn nhơ nên Kinh Lạy Cha kết thúc với lời cầu xin: Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ“. Đức Giêsu muốn chúng ta sống một nếp sống lành mạnh, không bị những áp lực tâm lý thành kẻ mê tín. Chúa không cần lời cầu nguyện của chúng ta nhưng cuộc sống của chúng ta cần lời cầu nguyện. Cầu nguyện không làm thay đổi hoàn cảnh mà là chính chúng ta. Trong lời nguyện chúng ta phó dâng cả cuộc sống trong tay Chúa là Đấng biết những gì chúng ta cần. Chúng ta đón nhận sức mạnh từ trời cao để tổ chức đời sống như ý Chúa muốn. Và như thế triều đại của Ngài đang đến.

     

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức.

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com