spot_img
Thêm

    Chúa Nhật IV Mùa Vọng, 22/12

    BÀI ĐỌC I: Mk 5, 2-5a

    Ðây lời Chúa phán: “Hỡi Bêlem Ephrata, ngươi nhỏ nhất trong trăm ngàn phần đất Giuđa, nhưng nơi ngươi sẽ xuất hiện một Ðấng thống trị Israel, và nguồn gốc Người có từ nguyên thuỷ, từ muôn đời. Vì thế, Người sẽ bỏ dân Người cho đến khi một người nữ phải sinh, sẽ sinh con. Số còn lại trong anh em Người, sẽ trở về với con cái Israel. Người sẽ đứng vững và chăn dắt trong sức mạnh của Chúa, trong thánh danh cao cả của Chúa là Thiên Chúa của Người. Và họ sẽ trở về, vì bấy giờ Người sẽ nên cao trọng cho đến tận cùng trái đất. Vì vậy, Người sẽ là chính sự bình an”.

    BÀI ĐỌC II: Dt 10, 5-10

    Anh em thân mến, khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu phán: “Chúa đã không muốn của hy tế và của lễ hiến dâng, nhưng đã tạo nên cho tôi một thể xác. Chúa không nhận của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội. Nên tôi nói: ‘Lạy Chúa, này con đến để thi hành thánh ý Chúa, như đã nói về con ở đoạn đầu cuốn sách’”. Sách ấy bắt đầu như thế này: “Của lễ hy tế, của lễ hiến dâng, của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội, Chúa không muốn cũng không nhận, mặc dầu được hiến dâng theo lề luật. Ðoạn Người nói tiếp: Lạy Chúa, này đây con đến để thi hành thánh ý Chúa”. Như thế đã bãi bỏ điều trước để thiết lập điều sau. Chính bởi thánh ý đó mà chúng ta được thánh hoá nhờ việc hiến dâng Mình Chúa Giêsu Kitô một lần là đủ.

    PHÚC ÂM: Lc 1, 39-45

    Ngày ấy, Maria chỗi dậy, vội vã ra đi tiến lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Isave. Và khi bà Isave nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà, và bà Isave được đầy Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng rằng: “Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc! Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm tôi? Vì này, tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện”.

    Suy Niệm 1: CHÚA ĐẾN KHAI MỞ TRIỀU ĐẠI THIÊN CHÚA, TRONG THÁNH THẦN

    Chúa nhật IV Mùa Vọng, thị trấn Bêlem được gọi tên, nhắc về đất của Đavit, của Vương triều. Và đó là sự ám chỉ Đấng thiên sai đến với vai trò qui tụ và lãnh đạo dân, mở ra triều đại của sự bình an (x. Mk 5,2-5a). Thánh vịnh 79 (Đáp ca) âm vọng lại vai trò thống lãnh, dẫn dắt và độ trì ấy của Chúa, nhưng trong hình thức lời kêu xin tha thiết của dân đang khốn khổ lầm than: “Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin cho chúng con được phục hồi, xin tỏ thiên nhan hiền từ Chúa ra, hầu cho chúng con được ơn cứu sống… Lạy Chúa thiên binh, xin thương trở lại… Xin bảo vệ vườn nho mà tay hữu Chúa đã trồng”.

    Tiếng kêu xin Chúa đến ấy được lắng nghe và được đáp ứng. Thư Do thái diễn đạt điều này bằng việc Chúa Con phụng mạng ‘vào cuộc’, với lời thân thưa nêu rõ lý do với Chúa Cha: Vì Cha không ưng các thứ của lễ chiên bò mà con người dâng lên, nhưng lại ban cho con một thân thể, thì đây con đến để thi hành thánh ý của Cha! (x. Dt 10,5-10).

    Đoạn Tin Mừng Luca là trình thuật Maria đi thăm bà chị họ Êlisabet, hé mở một sự thật rất quan trọng gắn với sự hiện diện của Đấng thiên sai (là Chúa Giêsu). Sự thật đó là: có Chúa Giêsu là có đầy tràn Thánh Thần! Vì thế ta thấy Maria mang bào thai Giêsu bé nhỏ đến, và điều mà bà Êlisabet lẫn đứa con trong dạ nhận được là: đầy tràn Thánh Thần! (x. Lc 1,39-45). Giêsu không đi vào sứ mạng cứu thế một mình, mà cùng với Thánh Thần. Điều này sẽ tiếp tục là mô típ của Giáo hội sau này: Nhận sứ mạng từ Chúa Giêsu, Giáo hội ra đi thi hành sứ mạng luôn luôn trong Thánh Thần.

    Lời Chúa như vậy mách bảo chúng ta để biết nhận ra AI khi nhìn em bé Giêsu trong Máng Cỏ Bêlem. Đó là Vua Hoà bình, đến để mở ra Triều đại của Thiên Chúa, là Triều đại đầy tràn Thánh Thần và đầy tràn các hoa trái của Thánh Thần: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân từ, lương thiện, hiền hòa, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ và thanh khiết (Gl 5,22-23).

    Triều đại của Thiên Chúa tuyệt vời như thế… song vẫn còn là mục tiêu phía trước mà sứ mạng của Giáo hội theo đuổi hôm nay – bởi cho dù đã được khai mở và đang có mặt, nhưng Triều đại Thiên Chúa chỉ hoàn thành ở tận cùng thời gian, trong vĩnh cửu của Thiên Chúa.

    Mừng Chúa đến ở cùng chúng ta, vì thế, không chỉ là những cử hành trong nhà thờ, mà tiên vàn phải là việc góp phần làm cho Triều đại Thiên Chúa – với đầy hoa trái Thánh Thần – trở thành hiện thực hơn trong đời sống thực tế hằng ngày của chúng ta.

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    ………………………….

    Suy Niệm 2: NIỀM VUI MANG CHÚA ĐẾN CHO NGƯỜI KHÁC

    Lời Chúa trong Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Vọng dẫn chúng ta vào mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô. Trong bài đọc 1, Ngôn sứ Mikha tuyên sấm về “số phận” của Bêlem, nơi Đấng Cứu Thế sẽ được sinh ra. Bêlem được diễn tả như sau: “Phần ngươi, hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel (Mk 5:1). Đức Chúa đã chọn một nơi khiêm cung, nhỏ bé để cho xuất hiện Đấng sẽ thống lãnh Israel. Tư tưởng này thường ngược với lối suy nghĩ thông thường của con người, vì con người thường không thích những gì nhỏ bé và thấp kém. Con người luôn mong muốn trở nên vĩ đại và sống trong những nơi tiện nghi, giàu có. Điều này chứng tỏ rằng nếu con người muốn gặp gỡ Đấng Cứu Tinh, họ phải đi ra khỏi lối suy nghĩ, lối sống thông thường của mình. Họ phải học biết cách tìm Chúa trong những gì là nhỏ bé tầm thường mỗi ngày. Vì chỉ qua những gì nhỏ bé hằng ngày mà con người mới gặp được Đấng “sẽ dựa vào quyền lực Đức Chúa, vào uy danh Đức Chúa, Thiên Chúa của Người mà đứng lên chăn dắt họ. Họ sẽ được an cư lạc nghiệp, vì bấy giờ quyền lực Người sẽ trải rộng ra đến tận cùng cõi đất. Chính Người sẽ đem lại hoà bình” (Mk. 5:3-4a).

    Trong bài đọc 2, tác giả thư Hípri nói cho chúng ta về giá trị của Lề Luật. Lề Luật không thể làm cho chúng ta nên hoàn hảo, nhưng chính Đức Kitô, Đấng đến để thực thi ý Chúa Cha làm cho chúng ta nên hoàn hảo. Đây chính là điểm nối kết hai bài đọc hôm nay: Thi hành thánh ý Chúa Cha là con đường trở nên hoàn hảo và là dấu chỉ của những thành viên trong gia đình thiêng liêng của Chúa Giêsu. Như vậy, luật tối hậu của chúng ta không phải là những chữ viết vô hồn trong sách, nhưng chính là Con Người sống động của Đức Kitô. Hãy để Đức Kitô là “thần tượng” của chúng ta trên con đường yêu thương.

    Con đường trở nên hoàn hảo bắt đầu với việc nhận ra vẻ đẹp và ý nghĩa của thân thể mà qua đó chúng ta hiện diện cách hữu hình trong trần gian. Tác giả của thư Hípri nói về sự hiện diện trong thân thể của Chúa Giêsu chính là hiến tế để thực thi ý Chúa: “Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con” (Hr 10:2-7). Chính thân thể của chúng ta là của lễ toàn thiêu và xá tội. Khi chúng ta không sống theo những đam mê của xác thịt, những hy sinh nơi thân xác đó chính là điều Thiên Chúa muốn chúng ta thực hiện trong từng ngày sống của mình để trở nên của lễ đẹp lòng Chúa. Thiên Chúa muốn những của lễ ở bên trong chúng ta, là một phần của cuộc sống của chúng ta chứ không phải là những của lễ vật chất dư thừa bên ngoài. Từ bỏ thái độ ghen tỵ và nói xấu người khác thì đẹp lòng Chúa hơn là từ bỏ một bữa ăn sáng để rồi ăn lại thật nhiều vào những bữa ăn khác! Từ bỏ tính kiêu ngạo và phàn nàn thì đẹp lòng Chúa hơn là từ bỏ không sử dụng điện thoại nhưng trong lòng không vui.

    Thật vậy, điều Chúa ưa thích không phải là những việc chúng ta làm vì bổn phận, vì luật buộc. Điều Chúa ưa thích và là của lễ đẹp nhất chúng ta có thể dâng lên cho Ngài chính là làm theo ý muốn của Ngài: “Trước hết, Đức Kitô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10:8-9). Mà ý muốn của Ngài chính là vượt qua giới hạn của những phản ứng tự nhiên để đón nhận mọi người vào trong con tim của chúng ta, vào trong gia đình thiêng liêng của Chúa Giêsu để yêu thương họ như Chúa Giêsu đã yêu thương họ.

    Để hiểu Tin Mừng Hôm nay, chúng ta phải đặt nó trong tương quan với trình thuật truyền tin (Lc 1:26-38). Trong trình thuật về truyền tin, Mẹ Maria đã không chỉ nhận tin sẽ cưu mang Con Thiên Chúa, nhưng còn nhận tin rằng: “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1:38). Nghe tin đó, Mẹ liền “vội vã ra đi lên miền núi” (Lc 1:39). Theo Thánh Ambrose, Mẹ vội vã đi không phải là Mẹ muốn kiểm chứng lời thiên thần. Cũng không phải Mẹ cảm thấy mơ hồ về kế hoạch của Thiên Chúa trên cuộc đời Mẹ. Mẹ “vội vã đi lên miền núi” với mục đích, với trách nhiệm của một người em họ, và nhất là với niềm vui của một người đang cưu mang Chúa trong cung lòng mình. Thái độ của Mẹ hoàn toàn khác với con người thời “hậu hiện đại” của chúng ta. Chúng ta luôn muốn kiểm chứng mọi sự. Chúng ta đánh giá mọi sự theo định luật: cân – đo – đong – đếm. Tuy nhiên, để hiểu mầu nhiệm của Thiên Chúa, chúng ta phải bước vào quỹ đạo của phục vụ: “vì Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45).

    Quả thật, được đầy tràn Thánh Thần, Mẹ đã vội vã ra đi lên miền núi. Tại sao Mẹ lại đi lên miền núi? Có phải vì nhà của Elizabeth ở miền núi? Đó là chi tiết mà chúng ta tìm thấy trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhưng đằng sau chi tiết này hàm chứa một ý nghĩa kinh thánh và thiêng liêng thật sâu xa. Những người muốn gặp gỡ Thiên Chúa luôn phải “đi lên”: Nào chúng ta cùng đi lên núi Chúa (xem Is 2:3); hoặc lời của Thánh Vịnh Gia: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa” (Tv 122:1). Theo truyền thống thánh kinh, núi là nơi biểu tượng cho sự hiện diện và là nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, Môisen gặp Chúa trên núi Sinai, Ngôn sứ Elia gặp Chúa trên núi Horeb. Còn trong Tân Ước, các mộn đệ chứng kiến việc Chúa Giêsu bày tỏ vinh quang của mình trên núi Tabo. Và hôm nay, trên miền núi, Elizabeth và Gioan Tẩy Giả gặp gỡ Mẹ Maria và Chúa Giêsu.

    Đọc kỹ bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta nhận ra rằng đây là cuộc gặp gỡ của bốn nhân vật: hai người mẹ và hai người con. Thánh Ambrose chỉ ra điều kỳ diệu trong cuộc gặp gỡ này là: Người mẹ (Elizabeth) nghe lời chào của người mẹ (Maria), người con (Gioan Tẩy Giả) ý thức được sự hiện diện của Ân Sủng (Chúa Giêsu); người mẹ (Elizabeth) nghe với đôi tai thân xác, nhưng người con (Gioan Tẩy Giả) nhảy lên vui sướng vì nhận biết được ý nghĩa của mầu nhiệm đang xảy ra. Người mẹ ý thức sự hiện diện của người mẹ, nhưng người con ý thức được sự hiện diện của Con Người, Đấng viếng thăm dân người như Vầng Đông từ chốn cao vời (Lc 1:78). Hai người mẹ nói về hồng phúc họ nhận được từ Thiên Chúa, trong khi hai người con nói về sứ mệnh mà họ sẽ thực hiện để hoàn thành tất cả những lời của các ngôn sứ từ ngàn xưa (xem Lc 1:70). Người con (Gioan Tẩy Giả) nhảy lên vui sướng và người mẹ (Elizabeth) được tràn đầy Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, Elizabeth được đầy tràn Thánh Thần sau khi cưu mang Gioan, trong khi Mẹ Maria được đầy tràn Chúa Thánh Thần trước khi cưu mang Chúa Giêsu. Những chi tiết này nhắc nhở cho chúng ta một chân lý mà chúng ta thường quên trong ngày sống của mình, đó là, khi chúng ta gặp gỡ người khác, liệu chúng ta có nhận ra Chúa trong người đó hay làm cho người đó thấy Chúa trong chúng ta không? Vì cuối cuộc đời, Chúa sẽ không xét xử chúng ta về việc chúng ta đã gặp ai và làm nghề gì. Chúa chỉ xét xử chúng ta trên việc chúng ta đã làm gì cho người khác, vì khi “anh chị em làm cho một trong những kẻ bé mọn của Thầy là anh chị em đã làm cho chính Thầy” (Mt 25:40).

    Chúng ta cùng nhau khám phá thêm ý nghĩa của Lời Chúa hôm nay với câu hỏi: Khi nhận được một món quà tuyệt vời và bạn rất thích nó, bạn sẽ làm gì? Bạn đem món quà đó cho người khác hay giữ lại cho riêng mình? Trong xã hội mà cá nhân chủ nghĩa được tôn sùng như “ngẫu tượng,” con người chỉ nghĩ và sống cho riêng mình. Hệ quả là con tim của con người ngày càng đóng kín trong thế giới riêng của họ. Họ chỉ quan tâm đến mối lợi và nhu cầu của riêng mình; khả năng chia sẻ càng ngày càng suy yếu. Lối sống này ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của con người, ngay cả tương quan của con người với Thiên Chúa. Một cách cụ thể, nhiều người cân đo “lợi – thiệt” khi đến nhà thờ hoặc nếu có đến nhà thờ thì cũng chỉ tìm ơn cứu độ cho riêng mình. Chính vì muốn giữ mọi sự cho riêng mình, chúng ta như người đầy tớ đem chôn giấu nén bạc và không sinh lời cho chủ (xem Mt 25:14-30). Mỗi người chúng ta nhận được một món quà tuyệt vời trong ngày Rửa Tội, đó là, đức tin. Chúng ta đã làm cho đức tin của chúng ta triển nở và sinh nhiều hoa trái chưa? Hay ngọn lửa đức tin của chúng ta đã tắt và chúng ta không còn khả năng để truyền ngọn lửa đức tin cho những người thân trong gia đình, trong giáo xứ của chúng ta.

    Chỉ còn năm ngày nữa là đến giáng sinh và Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta vào trong bầu khí đó bằng cách chỉ ra cho chúng ta thấy rằng mùa Giáng sinh là mùa tặng quà và giá trị của món quà hệ tại ai tặng quà và bao nhiêu tình yêu người tặng quà bỏ vào trong đó. Có người chỉ bỏ những cái dư thừa, nhưng cũng có những người bỏ tất cả những gì mình có để sống (xem Mc 12:41-44; Lc 21:1-4); có người bỏ một phần con người mình trong món quà nhưng cũng có người bỏ cả con người của mình. Bài Tin Mừng hôm nay nói cho chúng ta biết về món quà đầu tiên được Thiên Chúa trao ban cho con người, đó chính là “Con Thiên Chúa được gói trong khăn” (Lc 2:7). Chính Mẹ Maria đem Chúa Giêsu như là món quà giáng sinh đầu tiên đến cho Elizabeth và Gioan Tẩy Giả. Và món quà này đã làm cho Thánh Gioan Tẩy Giả nhảy lên vui sướng và bà Elizabeth được đầy tràn Thánh Thần. Điều này giúp chúng ta hiểu ra rằng: Chỉ có món quà “Giêsu” mới có thể thoả mãn mọi khát vọng đi tìm niềm vui, ý nghĩa và hạnh phúc cho cuộc đời con người. Và bất kỳ ai gặp Đức Kitô luôn nhảy lên vui sướng và được tràn đầy Thánh Thần. Như vậy, niềm vui của chúng ta không đến từ của cải vật chất, nhưng đến từ Thiên Chúa, hay nói cách cụ thể là đến từ việc gặp gỡ và có Chúa trong cuộc đời của mình.

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………………………….

    Suy Niệm 3: Người Của Mùa Vọng

    Ba tuần của mùa vọng đã trôi qua. Chỉ còn mấy ngày nữa thôi là đại lễ Giáng sinh. Bạn chỉ còn một ít thời gian để chuẩn bị mừng lễ nhưng bạn đã thực sự sống mùa vọng chưa? Bạn đã trở thành người của mùa vọng và sống niềm hy vọng chưa? Trước tiên chúng ta cần định nghĩa thế nào là người của mùa vọng. Hai nhân vật nổi bật giúp chúng ta nhận dạng người của mùa vọng: Đức Maria và Gioan. Cả hai có một đặc điểm chung chính là sẵn sàng để Thiên Chúa can thiệp vào cuộc sống của mình. Theo lời tường thuật của thánh sử Luca thì Đức Maria là một trinh nữ luôn mở rộng tâm hồn sẵn sàng lắng nghe tiếng Chúa. Đức Maria lắng nghe và hiểu Chúa muốn gì nơi mình và như thế có đủ khả năng để đáp trả lại lời mời gọi của Ngài: “Vâng, tôi là nữ tỳ của Chúa“. Nhưng làm thế nào để con người có đủ khả năng lắng nghe và đáp trả? Gioan Tẩy giả là một thí dụ điển hình. Ông đi vào hoang địa và sống trong cô tịch. Ở đó chỉ còn một mình ông đối diện với chính Thiên Chúa. Thời gian này đã giúp ông trưởng thành và trở thành người xuất hiện trong vai tiên tri của Đức Chúa từ trong ngôn ngữ đến hành động. Ông giúp mọi người chuẩn bị đón Đấng Cứu Thế.

    Đặc điểm đầu tiên của người sống mùa vọng chính là khả năng lắng nghe tiếng Chúa và sẵn sàng đáp trả. Bạn đã có khả năng này chưa? Ngay trong lúc này Chúa vẫn còn đang chờ đợi bạn. Tiếng của Ngài chỉ là một trong muôn vàn tiếng khác không dễ nhận ra. Ngài cũng không mong muốn chúng ta vì những lo toan chuẩn bị bên ngoài mà không thể hồi tâm. Bạn đừng để mọi thứ lấn át đi tiếng cầu cứu của những người khốn  khổ đang trông mong sự giúp đỡ của bạn.

    Đặc điểm thứ hai của Đức Maria và Gioan: Cả hai được đầy tràn Chúa Thánh Thần. Thánh sử Luca viết về Gioan: “Ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần“. Còn về Đức Maria, qua tín điều Giáo hội nhìn nhận Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội. Qua những cách thế khác nhau Thiên Chúa đã tuôn đổ Thánh Thần trên các ngài. Nói như thế không có nghĩa là các ngài không trải qua những tháng ngày đen tối của cuộc đời. Gioan đã từng sai hai môn đệ của mình đến cùng Đức Giêsu để hỏi xem: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi phải chờ đợi ai khác”. Đức Maria cũng tự hỏi khi tận mắt chứng kiến những biến cố xảy ra quanh Đức Giêsu và vai trò thực sự của Ngài.

    Cả hai yếu tố này có thể an ủi và khích lệ chúng ta khi phải đối diện với những thăng trầm của cuộc đời, nhất là khi rơi vào khủng hoảng. Đức Maria và Gioan chỉ cho chúng ta một con đường. Lời Đức Maria nhắn nhủ: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chú hãy làm cho tôi như lời sứ thần nói“. Còn lời của Gioan: “Ngài phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại“. Những lời này đều nói lên tinh thần tự hiến vì các ngài hoàn toàn đặt tin tưởng nơi Chúa, từ bỏ chính mình, không màng đến lợi lộc danh vọng. Hoàn toàn đặt tin tưởng nơi Chúa là yếu tố thứ ba của người sống mùa vọng. Bởi vì Chúa là Đấng đầy yêu thương và trung thành, luôn đứng về phía chúng ta và sẵn sàng trở nên một người phàm như chúng ta.

    Lm Phêrô Trần Minh Đức

    …………………………….

    Suy Niệm 4: CUỘC VIẾNG THĂM CỦA ĐỨC MARIA

    A. DẪN NHẬP
    Chúng ta bắt đầu bước vào tuần lễ thứ 4 của Mùa Vọng, được coi là thời gian chót của Mùa Vọng. Trong các Chúa nhật trước, tiên tri Isaia đã loan báo cho dân chúng về Đấng Thiên sai, tiếp đến thánh Gioan Tẩy giả thúc giục mọi người hãy sám hối để được ơn tha tội trong khi đón chờ , đồng thời mách bảo cho mọi người cách thức dọn đường cho Chúa đến.
    Chúa nhật thứ 4 Mùa Vọng này có thể được gọi là Chúa nhật của Đức Mẹ vì bài Tin mừng của ba năm đều nói đến Đức Mẹ. Như vậy, Giáo hội muốn nhắc nhở chúng ta nhớ đến vai trò của Đức Mẹ trong việc Chúa Cứu thế giáng sinh. Đặc biệt bài Tin mừng hôm nay nói đến việc Đức Maria đi thăm viếng bà chị họ Elizabeth để vị Tiền hô và Đấng Cứu Thế gặp nhau ngay khi còn trong bụng mẹ.
    Trong tâm tình dọn lòng mừng lễ Giáng sinh, chúng ta hãy để ra thời gian vắn để suy niệm về cuộc thăm viếng của Ngài. Qua bài Tin mừng hôm nay, Đức Maria để lại cho chúng ta nhiều bài học để thực hành : Đức Maria là mẫu gương của niềm tin, của bác ái và khiêm nhường. Noi gương sáng ngời của Đức Mẹ, chúng ta hãy tập sống bác ái theo phương châm của thánh Phaolô Tông đồ đã đề ra :”Nên mọi sự cho mọi người”(1Cr 9,19).

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    + Bài đọc 1 : Mica 5,2-5.

    Tiên tri Mica là người đồng thời với tiên tri Isaia và cũng là thừa kế tinh thần của Isaia. Ông loan báo cho biết Đấng Emmanuel (Is 7,14) sẽ sinh ra tại Belem (cũng gọi là Epratha), một thôn làng bé nhỏ và nghèo nàn nhưng đã trở nên quan trọng vì Thiên Chúa đã chọn thôn làng này làm quê hương của Đấng Thiên Sai (Mt 2,6). Ông còn cho biết Đấng Emmanuel này rất cao trọng, Ngài sẽ thống lĩnh Israel và đem lại cho Israel sự thống nhất và bình an trong khi dân Israel bị chia rẽ và cơ cực.

    + Bài đọc 2 : Dt 10,4-10

    Tác giả bức thư gửi cho Do thái mô tả Đấng Messia như một vị Thượng tế , và chức Thượng tế của Ngài trổi vượt chức thượng tế Cựu ước. Ngài đã vâng phục Đức Chúa Cha đến nỗi hy sinh mình trên thập giá. Lễ tế Ngài sẽ dâng lên không phải là lễ toàn thiêu hay là lễ xá tội của Cựu ước, mà là chính thân thể Ngài và thực thi thánh ý Thiên Chúa. Thánh vịnh 39/40 đã thể hiện sự hy sinh và vâng phục của Đức Giêsu đối với thánh ý của Thiên Chúa.

    Lễ tế của Đức Giêsu trong thân phận làm người được dâng trên bàn thờ thập giá không cần phải dâng lên nhiều lần, mà một lần duy nhất có giá trị vĩnh viễn.

    + Bài Tin mừng : Lc 1,39-45 

    Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Luca cho biết hai bà mẹ đang mang thai thăm viếng và chúc tụng nhau. Maria sau khi được thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, đã vội vã lên đường viếng thăm người chị họ Elizabeth để cho vị Tiền hô cũng nhận được Thần khí và được xức dầu làm tiên tri.

    Luca có ý viết câu chuyện này giống với chuyện Đavít mang hòm bia về Giêrusalem (2Sm 6), để nói rằng Đức Maria chính là Hòm Bia Tân ước. Như Đavít ngày xưa nhảy múa trước Hòm Bia, nay Gioan nhảy mừng trước Maria, Hòm bia Giao ước mới  đang mang nặng trong mình Đấng Cứu độ. Chính bà Elizabeth, khi gặp Maria, cô em họ đang mang nặng Đức Giêsu đã gọi cô là  “Thân mẫu Chúa tôi” vì Maria đã hoàn toàn tin vào lời Chúa hứa.

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

     Tâm tình cuộc viếng thăm

    I. CUỘC VIẾNG THĂM CỦA ĐỨC MARIA

    1. Hai chị em gặp nhau

    Theo ý định ngàn đời của Thiên Chúa, Trinh nữ Maria đã được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế.  Và đặc biệt là Trinh nữ thụ thai, sinh con mà vẫn còn đồng trinh vì đây là việc làm đặc biệt của Thiên Chúa toàn năng; và cũng là một dấu hiệu để Maria tin : bà chị họ Elizabeth của cô đã thụ thai trong lúc tuổi già và đã mang thai được sáu tháng. Vừa nghe tin mừng này Maria liền vội vã lên đường đến thăm và chia vui với người chị.

    Bà Elizabeth ở miền núi, chắc chắn cuộc hành trình của Maria lên miền núi không tránh được mệt nhọc vất vả. Theo lời truyền tụng từ thế kỷ thứ 5, gia đình Giacaria ở triền núi, trong một thành thuộc xứ Giuđa, tên gọi Ain Karim cách Giêrusalem 7 cây số về phía tây. Đường đi từ Nazareth đến Ain Karim phải mất 3,4 ngày đường.

    Hai chị em gặp nhau tay bắt mặt mừng, chúc tụng nhau những lời tốt đẹp, trong khi đó hai thai nhi gặp nhau trong bụng mẹ. Sự hiện diện của thai nhi Giêsu làm cho thai nhi Gioan có phản ứng lạ lùng : Thai nhi trong dạ Elizabeth nhảy mừng lên. Việc nhảy mừng của Gioan trong bụng mẹ là dấu chỉ cho bà Elizabeth nhận ra sự cao cả của thai nhi Giêsu và của Đức Maria. Chính bà Elizabeth đã nhận ra và chúc tụng Đức Maria là Mẹ Đấng Cứu thế:”Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi”. Sau đó, Đức Maria ở lại nhà ông Giacaria độ ba tháng để phục vụ, đoạn trở về nhà mình.

    1. Lý do thúc đẩy cuộc viếng thăm.

    Thiên sứ đã củng cố niềm tin cho Maria để Ngài tin vào quyền năng của Thiên Chúa bằng cách cho biết : Bà chị họ Elizabeth đã có thai trong tuổi già được 6 tháng, bởi vì không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được. Chắc chắn Maria không hề hồ nghi về quyền năng của Thiên Chúa trong việc sinh con của mình, và tin người chị họ mang thai trong tuổi già là tín hiệu của tình yêu Thiên Chúa đối với người chị họ.

    Đây là một tin vui, vì thế Maria vội vã lên đường thăm viếng và chia vui với chị. Do đó lý do cuộc thăm viếng của Đức Maria không phải là tò mò hay kiểm tra xem việc thực hư, mà là do tình thương yêu thúc đẩy. Ngài không đến thăm thì bà Elizabeth chẳng trách ngài được, lý do là bà ấy đâu biết rằng Ngài biết bà mang thai. Vả lại, chính Ngài cũng đang mang thai, mà đường xá lại xa xôi. Chính tình thương đã thúc đẩy Ngài đi vì Ngài rất giầu tình thương. Và cũng vì chính giầu tình thương mà Ngài xứng đáng làm Mẹ của Đức Giêsu, là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa.

    Tình yêu đòi hỏi phải biểu lộ ra, chứ không giữ kín trong lòng. Một tình yêu giữ kín, không được biểu lộ thành hành động, không phải là tình yêu đích thực. Tương tự như lời thánh Giacôbê:”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”(Gc 2,26). Cũng vậy, tình yêu không việc làm, không được biểu lộ là tình yêu chết. Tình yêu phải được biểu lộ ra thành sự quan tâm, chăm sóc, năng tìm cách gặp gỡ, giúp đỡ, hy sinh cho người thân, làm cho người thân trở nên tốt đẹp, hạnh phúc hơn. Câu tục ngữ:”Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua” có nghĩa như thế.

    Tình yêu đích thực đòi hỏi phải năng gặp nhau, nhất là những lúc người mình yêu có chuyện vui buồn.  Đức Phật Thích Ca nói:”Yêu nhau mà không được ở gần nhau, mà phải xa cách nhau thì sẽ đau khổ”, ngài gọi cái khổ ấy là “Ai biệt ly khổ”. Tục ngữ có câu:”Nhất nhật bất kiến như tam thu hề” (một ngày không gặp nhau thì dài như ba năm). Do đó, đi thăm viếng nhau là đòi hỏi của tình yêu đích thực, là biểu lộ sự quan tâm đến nhau.

    1. Ảnh hưởng hỗ tương của việc thăm viếng 

    Khi chúng ta thăm viếng một người nào, chúng ta tự nhận thấy  là mình đang làm một việc tốt đẹp cho người đó. Đó là sự thật. Nhưng chúng ta cũng được lợi nữa. Chúng ta cũng trở nên phong phú, mặc dù chỉ là để xem cách thế người khác đương đầu với những khó khăn, hoặc những tình huống hầu như không thể giải quyết được. Thậm chí khi ở giữa người đau yếu, bạn vẫn có thể tìm thấy một tâm hồn tỏa sáng. Có thể bạn đến thăm người đó, để đem lại cho họ điều gì đó, nhưng rồi bạn lại nhận ra rằng chính mình đang nhận được. Bạn ra về với tâm hồn phấn chấn. Trong mỗi cuộc viếng thăm, có điều gì đó xẩy ra theo mức độ nào đó. Người này được vui mừng khi tiếp nhận, người kia được vui mừng khi cho đi (Flor McCarthy).

    Khi thăm viếng, Maria đem đến cho ông bà Giacaria và Elizabeth niễm vui và sự phục vụ, đồng thời chính Ngài lại đón nhận được sự nâng đỡ về tinh thần : Ngài thêm xác tin về lời sứ thần khi thấy bà chị họ hiếm muộn mà giờ đã có thai. Ngài ngỡ ngàng khi thấy mầu nhiệm được làm Mẹ Đấng Thiên Sai, nay đã được Thánh Thần tỏ bày cho bà chị họ biết. Niềm hứng khởi và những lời chúc mừng của bà Elizabeth đã động viên Ngài  cất lên lời Ngợi khen cảm tạ hồng ân Thiên Chúa trong Kinh ngợi khen Magnificat.

    Bác sĩ Tom Dolly, một người đã hy sinh cả cuộc đời giữa chốn rừng thiêng nước độc bên Lào vào đầu thế kỷ 20 này, đã nói như sau:”Không có ai nghèo đến độ không có cái gì đó để tặng cho người khác”. Một người ăn xin ư ? Anh ta vẫn có thể cho chúng ta cơ hội để ta thể hiện sự chia sẻ quảng đại đối với anh. Một người tàn tật ốm đau cũng có thể mời gọi chúng ta cơ hội thuận tiện để kiên nhẫn chịu đựng sự xỉ nhục và sẵn sàng tha thứ. Phải, bất cứ ai cũng có thể đem lại cho chúng ta  một cái gì đó. Vấn đề là chúng ta có biết mở rộng lòng để đón nhận quà tặng đó hay không.

    II. DƯ ÂM CUỘC VIẾNG THĂM 

    1. Đức Maria, mẫu gương của niềm tin 

    Tin Thiên Chúa là ký thác đời mình vào tay Thiên Chúa. Là ưng thuận điều Thiên Chúa muốn. Trước khi thưa “Xin Vâng”, Đức Maria đã có chương trình của Ngài là sẽ sống đời đôi bạn với thánh Giuse (Lc 1,27). Và qua lời “Xin Vâng”, Ngài đã chấp nhận hoàn toàn để cho Thiên Chúa thay đổi hướng đi cuộc đời mình, để cho Thiên Chúa đảo lộn chương trình sống, và cùng Chúa bước vào cuộc mạo hiểm với trọn niềm tin yêu phó thác.

    Đức Maria đã đi từ bước phiêu lưu này đến bước phiêu lưu khác. Hình ảnh Đức Maria trong Tân ước xuất hiện vài lần ở những mốc chính trong cuộc đời Đức Giêsu : bình tĩnh đón nhận thụ thai, hạ sinh con trong một hang đá lạnh lẽo, dâng con trong đền thánh, đem con lánh sang Ai cập, dẫn con tới tiệc cưới Cana và có mặt trong chặng đường khổ giá cuối đời của người con tội nhân.  Ở đâu, Đức Maria cũng chứng tỏ một niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa.

    Chính bà Elizabeth đã chúc tụng Đức Maria:”Em thật diễm phúc, vì đã tin rằng Chúa đã thực hiện những gì Người đã nói cho em biết”. Không những Đức Maria đã có niềm tin vào Lời Chúa mà còn thể hiện lòng tin đó vào việc vội vã đi viếng thăm bà Elizabeth. Đúng như lời thánh Giacôbê nói:”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”.
     

    Truyện : Không thể ngờ được.

    Một doanh nhân giầu có ở Mỹ có sáng kiến ngộ nghĩnh để thử lòng người : Ông cho in rất nhiều bích chương và dán khắp nơi trong thành phố nơi ông đang ở. Đại khái nội dung của bích chương loan báo : Bất cứ ai mắc nợ, nếu đến văn phòng của ông ngày đó, tháng đó từ 9 giờ đến 12 giờ đều được ông giúp đỡ để trả nợ. Dĩ nhiên, mọi người đều bàn tán lời mời gọi này, nhưng đa số đã xem đây là một trò đùa.

    Đúng ngày hẹn, doanh nhân ngồi trong văn phòng của mình. Hai giờ trôi qua mà không thấy người nào đến. Mãi tới 11 g mới có một người đàn ông rụt rè đến… Doanh nhân ký cho ông một ngân phiếu để trả hết nợ. Gần 12 giờ một vài người nữa cũng đến… Và dĩ nhiên họ cũng được giúp đỡ tận tình. Còn tất cả những người khác khi hiểu được lời mời gọi của doanh nhân thì đã muộn (Thiên Phúc, Như Thầy đã yêu, C, tr 20).

    Lời hứa của doanh nhân trong chuyện trên đây quá lớn, nên đa số đã không tin. Chính vì không tin nên họ đã bỏ lỡ một cơ hội ngàn vàng. Đức Maria, trái lại, Mẹ đã dám tin vào Lời Chúa hứa nên đã được tràn đầy ơn phúc. Bà Elizabeth đã nói:”Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”(Lc 1,45).

    1. Đức Maria, mẫu gương của bác ái

    Maria đã vội vã ra đi lên miền núi” : điều đó nói lên sự nhiệt tình  của Đức Maria trong việc đi thăm viếng, chia vui sẻ buồn, giúp đỡ gia đình bà chị đang bối rối vì mang nặng đẻ đau. Dù phải đi bộ đến ba, bốn ngày đường xa xôi hiểm trở cũng không ngăn cản nổi  gót liễu yếu đào tơ đầy lòng thương mến của Ngài.

    Dầu Đức Maria có nhiều lý do  để không ra đi, không tiến hành cuộc hành trình : nào là từ nay phải giữ gìn sức khỏe nhằm lợi ích cho thai nhi. Nào là đường đi xa xôi, nguy hiểm, phải ít nhất ba bốn ngày mới tới nơi.  Lộ trình này có nhiều rủi ro nguy hiểm, nhất là cho thân gái. Trước những trở ngại này và thêm vào đó không có một chỉ thị nào về phía Chúa bảo phải đi, để Maria có lý để từ chối.

    Những lý do trở ngại ấy không cản bước được Đức Maria. Người ta dễ dàng né tránh lời mời gọi của đức ái, nại đến những lý do ít nhiều chính đáng. Nhưng lòng quảng đại của Maria phá tan mọi chần chừ, lưỡng lự để vội vã lên đường. Đúng là tình yêu mạnh hơn sự chết.

    Đó là gương mẫu về lòng mau mắn giúp đỡ, nghĩ tới người khác hơn là nghĩ tới mình. Yêu thương luôn luôn đòi hỏi từ bỏ, đòi hỏi phải hao mòn chính bản thân mình. Khi xẩy ra một việc cần giúp đỡ, có biết bao lý do nại ra để từ chối ! Nếu có được lòng yêu thương như Đức Maria, chúng ta sẽ sung sướng quên mình để nghĩ đến hạnh phúc của người khác.

    1. Đức Maria, mẫu gương khiêm nhường 

    Khác hẳn với những thiếu nữ Do thái, Maria không bao giờ dám mơ tưởng mình là Mẹ Đấng Cứu Thế, vì Ngài thấy rõ thân phận mình chỉ là một nữ tỳ hèn mọn, đã đính hôn với một bác thợ mộc  lao động cực khổ ở một làng quê vô danh. Thế mà :”Phận nữ tỳ hèn mọn đã được Thiên Chúa đoái thương đến”. Sau khi biết đó là ý Thiên Chúa, Đức Maria đã tin và dám xin :”Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin vâng như lời thiên thần nói”. Lời xin vâng thật khiêm tốn, luôn luôn chỉ coi mình là nữ tỳ, là tôi tớ, không dám nhận làm Mẹ Đấng Cao Cả.

    Cũng thế, khi Đức Maria vừa được thiên sứ báo tin được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Ngài tự nguyện đi làm tôi tớ cho bà Elizabeth. Qua lời thiên sứ, Ngài biết Thiên Chúa đã ban cho Ngài địa vị cao cả  hơn người chị họ nhiều, ý thức mình được chọn trong tất cả phụ nữ Israel, một địa vị mà không một phụ nữ nào có thể sánh ví. Với ý thức đó, Ngài đã tự nguyện trong vòng ba tháng đi làm công tác của một người hầu hạ cho một người đàn bà trong lúc sinh nở, nàng đảm đang luôn công việc của một gia nhân.

    Đức Maria không thuộc loại người, bắt người khác phải nhận ra địa vị cao sang của mình, và đòi phải cúi đầu kính cẩn. Đức Maria muốn bắt chước việc làm của Con mình sau này : Đức Giêsu yêu thương các môn đệ, tuy là Chúa và là Thầy mà Ngài còn “Đứng dậy, ra khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài, lấy khăn cuốn ngang lưng, đổ nước vào chậu, lần lượt rửa chân cho các môn đệ”(Ga 13,1-3). Nàng không muốn tỏ ra là một nhân vật quan trọng, dầu ngài quan trọng nhất trong tạo vật. Không một ai có thể nhận ra trong những ngày phục vụ tại nhà Elizabeth một thiếu nữ ấy đã được Thiên Chúa ban cho một địa vị cao cả nhất. Người ta chỉ nhận thấy nơi nhà ông bà già này một gia nhân ân cần tự trọng, làm hết mọi công việc tầm thường nhất, và làm cách tự nhiên như đó là phận sự của nàng.

    Truyện : Khiêm nhường hay danh dự ?

    Thầy Đô-đi-kê nổi tiếng thánh thiện nhất trong dòng và hay làm phép lạ. Tin đồn rằng bất cứ điều gì thầy xin đều được Chúa nhận lời.

    Một hôm dân làng kéo đến xin thầy cầu nguyện cho trời mưa. Nhưng thay vì trời mưa thì lại nắng hạn lâu hơn nữa.

    Một người mẹ đến xin thầy cầu nguyện cho đứa con đang đau được mau lành. Nhưng đứa con đã chết sau đó vài ngày.

    Vài người khác đến xin thầy làm phép lạ cho đá thành bánh. Nhưng đá vẫn trơ ra đấy.

    Sau những lần thử thách mà không được gì cả, dân làng nổi giận  đuổi thầy ra khỏi phạm vi của làng, cấm không cho thầy trở lại tu viện nữa.

    Thầy đành phải đi tìm một hang đá trong sườn núi để ẩn mình, rồi than thở với Chúa :

    – Lạy Chúa, con không hiểu tại sao lại xẩy ra như vậy. Con cầu xin Chúa cho mưa xuống thì Chúa lại làm cho nắng hạn lâu hơn. Con xin cho đứa trẻ mau lành bệnh thì Chúa lại cho nó chết. Con xin Chúa cho dân làng bánh ăn thì Chúa cứ để những viên đá trơ trơ ra đó. Vì thế Chúa xem đây : con bị mọi người xua đuổi, coi con như một kẻ tội lỗi nhất.

    Nói xong, thầy nghe có tiếng từ trời phán :

    – Hỡi con, bởi vì Ta đã cho con điều con cầu xin lúc trước đó rồi.

    Thầy Đi-đô-kê không còn nhớ  thầy đã xin gì trước đó nữa nên mới hỏi lại :

    – Nhưng lạy Chúa, con đã xin Chúa điều gì ?

    Tiếng lạ đáp :

    – Trước đây con đã chẳng cầu xin Ta  cho con được dịp sống khiêm nhường đó sao ? (D. Wahrheit, Món quà Giáng sinh, tr 108-109).

    III. BÀI HỌC TỪ CUỘC THĂM VIẾNG

    1. “Nên mọi sự cho mọi người”

    Trong thư gửi cho tín hữu Corintô, thánh Phaolô tông đồ đã viết:”Tôi đã trở nên mọi sự cho mọi người”(1Cr 9,19). Thánh Tông đồ chỉ có một ước vọng là đi rao giảng Tin mừng cho mọi người, không đòi hỏi đời sống vật chất mặc dầu Ngài có quyền đòi hỏi vì thợ thì đáng hưởng lương .

    Ngài là con người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng đã thành nô lệ cho mọi người hầu chinh phục được nhiều người. Ngài sẵn sàng trở nên người Do thái để chinh phục người Do thái. Đối với những người sống theo Lề Luật, Ngài cũng sống theo Lề Luật mặc dù không còn phải sống theo Lề Luật; còn đối với những người sống ngoài Lề Luật, Ngài cũng sống ngoài Lề Luật dù Ngài không sống ngoài luật Thiên Chúa, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật.

    Thánh Tông đồ đã quên mình hòa nhập với mọi người để chinh phục mọi người về cho Chúa. Cuộc đời như thế chỉ là phản ảnh, rập khuôn, bắt chước cuộc đời của Đức Giêsu và Đức Maria. Vì con đường mà Chúa xuống thế làm người để truyền dạy cho nhân loại noi theo không khác gì ngoài con đường hiến thân phục vụ Thiên Chúa qua anh em, hy sinh làm tôi tớ cho mọi người vì yêu Chúa.

    Vậy để có thể nên giống Chúa và bắt chước gương sống của Đức Mẹ, mỗi người chúng ta phải làm gì ? Hãy thực hiện phương châm:”Omnia omnibus factus sum” (x. 1Cr 9,19) : nên mọi sự cho mọi người .

    Trước hết “Nên mọi sự” là một nguyên tắc xả thân cao độ khi ta biết biến đời mình và những gì thuộc về mình thành hữu ích cho nhân quần xã hội vì lòng yêu mến Chúa và thương người. Do đó, một khi đã chọn con đường đi theo Đức Kitô thì người môn đệ đúng nghĩa sẽ tự nguyện hiến toàn thân bao gồm sức khỏe, thời giờ, tài năng, của cái cho mưu cầu ích chung, thành như đồ vật cho mọi người xử dụng. Muốn được như thế, tất nhiên chúng ta phải luôn có Chúa trong mình và hoàn toàn lệ thuộc vào thánh ý của Ngài.

    Thứ đến là “Cho mọi người” vì khi đã nên mọi sự  mà chỉ giữ lại cho riêng mình hoặc chỉ ban phát kiểu nhỏ giọt thì không thể nên giống Chúa được, mà phải trở nên như một đồ vật cho người ta xài, theo kiểu nói của Cha Antôn Chevrier, trở thành một “Homme mangé” : làm người bị người ta ăn đi, nghĩa là phải hao mòn vì người ta.

    Cũng thế, một người Kitô hữu thực sự theo đúng gương Thầy mình thì phải đem cuộc sống của mình cho mọi người xử dụng. Đây là một cuộc đầu tư làm ăn sáng suốt nhất và khôn ngoan nhất vì họ chỉ bỏ ra một cuộc sống tạm bợ ở đời này để đổi lấy một cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu mai sau. Hơn nữa vì yêu mến anh em mà sẵn lòng cho đi tất cả sẽ được Chúa thương yêu và thưởng công gấp bội.

    Truyện : Bác sĩ Longet

    Bác sĩ Longet là một người Pháp, đã từng phục vụ ở Việt nam cách đây mấy mươi năm và cũng nổi tiếng như bác sĩ Tom Doley, người Mỹ đã phục vụ ở Đông Nam Á. Ông tận tụy săn sóc các bệnh nhân bất kể giai cấp, tôn giáo, chủng tộc, ngày lẫn đêm.

    Được hỏi tại sao ông quí mến bệnh nhân như thế ?

    Bác sĩ Longet đáp :

    – Vì tôi thấy Chúa Giêsu trong mỗi bệnh nhân.

    Chính vì thế, mỗi sáng khi đi dự thánh lễ, bệnh nhân lương hay giáo, ai muốn đi ông đều chở trên xe ; mỗi chiều Chúa nhật, ông lại chở các bệnh nhân đi chơi, tham quan nơi này nơi nọ. Và mỗi tối ông lần hạt chung với người Công giáo. Ít lâu sau, ông Longet trở về nước Pháp, vào chủng viện dâng mình làm Linh mục và tình nguyện sang phục vụ  những người nghèo ở giáo phận Cần thơ. Nhưng tiếc thay, sau khi chịu chức xong, ông lâm trọng bệnh và qua đời  trước khi tới nơi hằng mong ước (Quê Ngọc, Nên mọi sự cho mọi người, C, tr 12).

    1. Thăm viếng để chia sẻ

    Chúng ta nhận thấy trong mùa Vọng này có ba nhân vật quan trọng được nhắc tới :

    – Tiên tri Isaia loan báo Đấng Thiên Sai sẽ đến (Chúa nhật I).

    – Gioan Tẩy giả rao giảng sám hối để dọn đường cho Chúa đến (Chúa nhật II).

    – Đức Maria là một nhân vật không thể thiếu được, vì qua Ngài, ơn cứu độ bắt đầu được thực hiện (Chúa nhật IV).

    Vì thế, trong suốt Mùa Vọng, chúng ta được nghe đọc những lời loan báo của tiên tri Isaia, được nhận biết cuộc đời và sứ mạng của Gioan Tẩy giả; và hôm nay, bài Tin mừng trình bầy cho chúng ta chân dung Đức Mẹ qua việc Đức Mẹ đi thăm viếng bà Elizabeth.

    Bắt chước việc làm của Đức Mẹ, chúng ta phải biết chia sẻ với những người chung quanh. Có biết bao gia đình đòi hỏi chúng ta phải thăm viếng, giúp đỡ. Chúng ta đừng bao giờ giả điếc làm ngơ hay giả mù không thấy để rồi khép kín lòng chúng ta lại trước những người cần chúng ta thăm viếng, an ủi, giúp đỡ. Thiên Chúa rất hài lòng khi thấy chúng ta sống tinh thần liên đới với nhau, biết chia sẻ những hồng ân Ngài ban cho chúng ta để luôn sống trong phương châm “Nên mọi sự cho mọi người”.

    Truyện : Đức Giáo hoàng Gioan 23.

    Đức Giáo hoàng Gioan 23, lần đầu tiên, một vị Giáo hoàng rời khỏi Rôma, đến thăm giáo chủ Anathagoras của Giáo hội Đông phương. Một Giáo hội đã ly khai khỏi Giáo hội Công giáo từ lâu đời. Cuộc viếng thăm của Đức Giáo hoàng đã biểu lộ tình bạn chí thiết với Đức Giáo chủ và nhìn nhận Giáo hội Đông phương cùng một chi thể với Đức Kitô, hợp nhất trong Chúa Thánh Thần. Từ hai ngàn năm nay, noi gương cuộc viếng thăm của Đức Mẹ và Chúa Giáng sinh, bao nhiêu cuộc viếng thăm hồng phúc như thế đã loan truyền Tin mừng đi khắp năm châu bốn bể .

    Lạy Mẹ Maria , chính cuộc sống khó khăn đã biến chúng con thành người ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình, đến gia đình mình, mà không nghĩ đến tha nhân; ai sống chết thế nào cũng mặc ! Nhiều lúc con có thái độ dửng dưng và thờ ơ trước những nỗi thống khổ của tha nhân. Xin Mẹ dạy con biết noi gương Me : Mở lòng đón nhận những kẻ bất hạnh, quảng đại chia sẻ cơm áo cho những người đói khát, luôn nghĩ tốt và làm tốt cho người chung quanh, sẵn sàng tha thứ vô điều kiện cho những ai xúc phạm đến mình. Xin cho con học theo Mẹ : Mau mắn đem Chúa đến cho tha nhân, giúp mọi người nhận biết và yêu mến Chúa. Xin cho con biết sống thanh sạch và luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu con yêu của Mẹ, để con xứng đáng nhận được ơn cứu độ của Người trong mùa hồng phúc này .

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt

                                                                      

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com