BÀI ĐỌC I: Tl 13, 2-7, 24-25a
Ngày ấy có một người đàn ông, bởi đất Sara và thuộc chi họ Ðan, tên là Manuel, có người vợ son sẻ. Thiên Thần Chúa hiện ra nói với bà ấy rằng: “Ngươi son sẻ không con; nhưng sẽ được thụ thai, và hạ sinh một con trai. Vậy ngươi hãy cẩn thận, đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn món gì không thanh sạch. Vì ngươi sẽ được thụ thai, và hạ sinh một con trai. Lưỡi dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó; nó là người được hiến dâng cho Thiên Chúa từ thuở nhỏ và từ lòng mẹ; chính nó sẽ bắt đầu giải phóng Israel khỏi tay người Phi-li-tinh.” Bà nầy đi nói với chồng rằng: “Có một người của Thiên Chúa đến cùng tôi, với diện mạo Thiên Thần, rất đáng sợ. Tôi hỏi người ấy là ai, bởi đâu đến, gọi tên gì. Người ấy không muốn nói cho tôi biết. Nhưng lại trả lời rằng: “Rồi đây, ngươi sẽ được thụ thai và hạ sinh một con trai: hãy cẩn thận, đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn món gì không thanh sạch. Vì con trẻ sẽ là người được hiến dâng cho Thiên Chúa từ thuở nhỏ và từ trong lòng mẹ, cho đến ngày nó chết”. Bà đã hạ sinh một con trai, và gọi tên là Samson. Hài nhi lớn lên, và Chúa đã chúc phúc cho nó. Và thần tri Chúa bắt đầu ở với nó.
PHÚC ÂM: Lc 1, 5-25
Vào thời Hêrôđê làm vua xứ Giuđêa, có một tư tế tên là Giacaria, thuộc phiên ban Abia, và vợ ông bởi dòng dõi Aaron, tên là Elisabéth. Cả hai là người công chính trước mặt Thiên Chúa, ăn ở theo mọi giới răn và lề luật của Chúa, không ai trách được điều gì. Nhưng họ lại không con, vì Elisabéth son sẻ, và cả hai đã đến tuổi già. Xảy ra khi Giacaria chu toàn chức vụ tư tế trước mặt Thiên Chúa, theo lượt của phiên mình như tục lệ hàng tư tế, ông bắt thăm và trúng việc vào cung thánh Chúa mà dâng hương. Ðang lúc toàn thể đám đông dân chúng cầu nguyện bên ngoài, trong giờ dâng hương. Bấy giờ Thiên Thần Chúa hiện ra cùng ông, đứng bên phải hương án. Giacaria thấy vậy hoảng hốt, sự kinh hoàng đột nhập vào ông. Nhưng Thiên Thần nói với ông rằng: “Giacaria, đừng sợ, vì lời ngươi cầu nguyện đã được nhậm rồi. Elisabéth vợ ngươi sẽ hạ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ gọi tên trẻ là Gioan. Ngươi sẽ được vui mừng hân hoan, và nhiều người cũng sẽ vui mừng, vì việc trẻ sinh ra. Vì trẻ nầy sẽ nên cao trọng trước mắt Chúa, sẽ không uống rượu và thức có men, sẽ được tràn đầy Thánh Thần ngay từ lòng mẹ, sẽ đem nhiều con cái Israel trở về cùng Chúa là Thiên Chúa. Trẻ nầy sẽ đi trước Người, trong thần trí và quyền lực của Elia, để đổi lòng dạ cha ông về với con cháu, kẻ ngổ nghịch về lại với lương tri của những người công chính, dọn cho Chúa một đoàn dân chuẩn bị. Giacaria thưa với Thiên Thần rằng: “Làm sao tôi biết được, vì tôi đây đã già, và vợ tôi cũng đã cao niên?” Thiên Thần liền đáp: “Ta là Gabriel, ta đứng chầu trước mặt Thiên Chúa, ta được sai đến nói với ngươi, và báo cho ngươi tin lành nầy. Thì đây, ngươi sẽ nín câm và không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra; bởi vì ngươi đã không tin lời ta, là những lời sẽ nên trọng khi đến thời của chúng”. Dân chúng đang trông đợi Giacaria, lấy làm lạ vì ông ở lâu trong cung thánh. Nhưng lúc ra, ông không nói được, và họ biết ông đã thấy điềm lạ trong cung thánh. Còn ông thì chỉ làm hiệu cho họ, và vẫn bị câm. Khi những ngày thánh vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà. Sau những ngày ấy, Elisabéth vợ ông thụ thai, và bà ẩn mình trong năm tháng, bà nói rằng: “Chúa đã làm cho tôi thế nầy, trong những ngày Người đoái thương, cất nổi khổ nhục tôi khỏi người đời.
Suy Niệm 1: TẤT CẢ CHÚNG TA LÀ NHỮNG ‘NGƯỜI CỦA THIÊN CHÚA’
Tiêu điểm của lời Chúa ngày 19.12 chuyển sang câu chuyện thành thai của Gioan Tẩy giả (x. Tin Mừng Luca), với ‘phiên bản’ đi trước là câu chuyện thành thai của Samson (x. sách Thủ lãnh). Cả hai đều là những mẩu chuyện ‘truyền tin’ bao gồm một số yếu tố tương tự rất dễ nhận ra. Riêng cuộc truyền tin cho ông Dacaria chỉ diễn ra trước cuộc ‘Truyền Tin’ nổi tiếng cho Đức Maria chỉ 6 tháng, bởi cùng Thiên sứ Gabriel! Trong Thánh Kinh, còn có những cuộc ‘truyền tin’ khác nữa, chẳng hạn câu chuyện về bà Xara, mẹ của Isaac, hay câu chuyện về bà Anna, mẹ của Samuel…
Điểm tương tự nổi bật nhất trong các trình thuật ‘truyền tin’ nói trên, đó là tình trạng son sẻ của những người phụ nữ. Họ có chồng, nhưng không thể có con. Đặc biệt, trường hợp Đức Maria thì “không biết đến người nam”, lại càng không thể nào có con!
Nhưng tất cả các trường hợp không thể ấy đã trở thành có thể, như tin báo của thiên sứ. Dấu lạ ngoạn mục ngoài sức tưởng tượng ấy, nhất là đối với Maria vốn “không biết đến người nam”, cho thấy người con sinh ra là của Chúa, hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, để làm công việc của Thiên Chúa. Vì thế, các nhà chú giải gọi các trình thuật truyền tin là các ‘trình thuật ơn gọi’ – ơn gọi của người con, và cả ơn gọi của bố mẹ nữa!
Trở lại với câu chuyện thành thai của Gioan Tẩy giả… Đây trước hết là niềm vui và ơn phước của cha mẹ vốn son sẻ: “Chúa đã làm cho tôi thế nầy, trong những ngày Người đoái thương, cất nỗi khổ nhục tôi khỏi người đời”… Nhưng đọc hết câu chuyện, chúng ta sẽ thấy đây chủ yếu là niềm vui sinh được con, và trút được nỗi khổ nhục vì bị người đời chế giễu. Bởi hai ông bà đâu có ‘kiếm chác’ gì đáng kể hơn từ đứa con này, nếu không nói là phải hy sinh, liên luỵ phiền muộn vì con mình: đứa con lớn lên, sống không giống ai, đến nỗi bị thiên hạ cho là ‘quỉ ám’, rồi cuối cùng xung đột với nhà vua, dẫn đến bị chém đầu cách tức tưởi! Chỉ vì Gioan là của Thiên Chúa, hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa!
Nét khổ hạnh trong đời sống của Samson và của Gioan nhắc cho chúng ta rằng những ‘người của Thiên Chúa’ không chỉ có tính thần bí mà còn bao gồm trước hết tính khổ hạnh nữa. Không thể buông tuồng mất nết mà lại là ‘người của Thiên Chúa’ được! Trong một thế giới in đậm dấu hưởng thụ, tiêu thụ như ngày nay, chúng ta càng cần được nhắc nhở bởi những khuôn mặt khổ hạnh như thế…
Nhưng câu hỏi quan trọng nhất cần đặt ra ở đây: Những ai thực sự là ‘người của Thiên Chúa’? Sẽ lầm nếu trả lời rằng chỉ những đứa con đến từ các cuộc ‘truyền tin’ kỳ diệu nói trên mới là người của Thiên Chúa. Thực ra, những Isaac, Samuel, Samson, Gioan Tẩy giả và nhất là Chúa Giêsu… là những hình mẫu theo các mức độ khác nhau cho ta biết thế nào là một ‘người của Thiên Chúa’. Sự thật là tất cả chúng ta đều là người của Thiên Chúa!
Vâng, tất cả chúng ta, nói cho cùng, đều được Thiên Chúa đưa từ hư không vào hiện hữu làm người một cách kỳ diệu. Tất cả chúng ta đều có một ơn gọi và vai trò của mình trong công cuộc của Thiên Chúa. Tất cả chúng ta là con của cha mẹ mình, nhưng cũng như Gioan, chúng ta không thuộc về cha mẹ mình như mức độ chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Và cuối cùng, câu chuyện cuộc đời của mỗi người chúng ta có ý nghĩa thế nào cũng tuỳ theo mức độ gắn kết với công cuộc của Thiên Chúa, tức gắn kết với thánh ý của Ngài.
Nhìn vào Hài nhi Giêsu trong Hang đá Giáng sinh, chúng ta nên tự hỏi “Người đến đây làm gì?”… Và rồi mỗi người cũng nên tự hỏi: “Tôi từ đâu đến đây, và tôi đến đây làm gì?”
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
………………………………….
Suy Niệm 2: SỐNG THUỘC TRỌN VỀ THIÊN CHÚA
Sách Thủ Lãnh thuật lại cho chúng ta câu chuyện về Samsôn. Đây là một câu chuyện nói về sự can thiệp của Thiên Chúa điều mà con người không thể. Câu chuyện bắt đầu với sự kiện là “có một người đàn ông ở Xorơa, thuộc chi tộc Đan, tên là Manôác. Vợ ông son sẻ và không sinh con” (Tl 13:2). Sự son sẻ của bà đã được Thiên Chúa can thiệp, để bà “sẽ có thai và sinh một con trai” (Tl 13:3). Chi tiết đầu tiên này nhắc nhở chúng ta về một thực tế trong cuộc sống, đó là nhiều lần chúng ta đối diện với những điều mà với sự hiểu biết và khả năng của con người thì không thể xảy ra. Nhưng với ơn Chúa chúng ta có thể vượt qua những điều đó cách dễ dàng và bình an. Ở đâu có sự hiện diện của Thiên Chúa, ở đó mọi sự đều có thể cho những người đặt trọn niềm tin vào Người.
Chi tiết thứ hai làm chúng ta suy gẫm là ơn gọi của đứa trẻ được hứa là thuộc trọn về Thiên Chúa. Điều này được diễn tả qua những điều sau: “Đừng uống rượu và thức có men, cũng đừng ăn mọi thứ không thanh sạch. Vì này bà sẽ có thai và sinh một con trai. Dao cạo sẽ không được lướt trên đầu nó, vì con trẻ sẽ là một nadia của Thiên Chúa từ lòng mẹ. Chính nó sẽ bắt đầu cứu Israel khỏi tay người Philitinh” (Tl 13:4-5). Điều đó đã xảy ra như lời đã tiên báo cho bà: “Bà sinh được một con trai và đặt tên là Samsôn. Đứa bé lớn lên, và Đức Chúa chúc lành cho nó. Thần khí Đức Chúa bắt đầu tác động trên Samsôn” (Tl 13:24-25a). Cuộc sống và ơn gọi của Samsôn gợi cho chúng ta nhớ đến cuộc sống và ơn gọi của mỗi người. Sự sống của chúng ta đến từ Thiên Chúa và mỗi người chúng ta thuộc trọn về Thiên Chúa qua đời sống thanh sạnh, không bị vướng bẩn bởi những danh vọng và níu kéo của thế gian. Chúng ta chỉ sống được như thế khi có Thiên Chúa chúc lành và bàn tay Thiên Chúa đặt trên chúng ta.
Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta vào mầu nhiệm sáng tạo của Thiên Chúa. Nói một cách cụ thể, hai bài đọc hôm nay có cùng một cốt chuyện và nói lên cùng một sứ điệp: Ở đâu quyền lực của con người trở nên vô hiệu và bất lực thì quyền năng của Thiên Chúa được tỏ lộ. Thật vậy, khi mọi nỗ lực của con người trở nên vô hiệu, chỉ có tình yêu của Thiên Chúa mới biến sự “tuyệt vọng” của con người thành “hy vọng.” Cả hai bài đọc hôm nay kể về hai cặp vợ chồng đã “tuyệt vọng” vì không thể sinh con vì họ đã cao niên. Nhưng tình yêu của Thiên Chúa đã biến sự “tuyệt vọng và nỗi buồn” của họ thành “niềm vui.” Khi cuộc sống của chúng ta dường như vô vọng, hãy chạy đến với Chúa và chỉ có mình Ngài mới có thể mang lại cho chúng ta niềm vui và hy vọng trong những giây phút thất vọng.
Nhìn từ khía cạnh khác, hai bài đọc hôm nay kể cho chúng ta nghe hai câu chuyện về tiên báo việc sinh ra của hai nhân vật “được thánh hiến” từ trong lòng mẹ: Samson trong bài đọc 1 và Gioan Tẩy Giả trong bài Tin Mừng. Cả hai đều có những chi tiết nổi bật giống nhau như sau: (1) sinh ra bởi “người mẹ son sẻ và không sinh con” (Tl 13:3; Lc 1:7); (2) cả hai được thánh hiến từ trong lòng mẹ (Tl 13:5; Lc 1:15); (3) cả hai không đụng đến rượu (Tl 13:4; Lc 1:15). Tuy nhiên, điều chúng ta quan tâm hơn ở đây chính là việc cả hai đều sinh ra bởi “quyền năng của Thiên Chúa” hơn là từ “ước muốn của con người.” Điều này làm cho cả hai trở nên cao trọng trước mặt Thiên Chúa: Samson sẽ “bắt đầu cứu Israel khỏi tay người Philitinh và được Thiên Chúa chúc lành và Thánh Thần tác động,” còn Thánh Gioan Tẩy Giả làm cho “nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời và nên cao cả trước mặt Chúa. Ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần. Em sẽ đưa nhiều con cái Ít-ra-en về với Đức Chúa là Thiên Chúa của họ.” Những chi tiết này giúp chúng ta nhận ra rằng: Những ai được sinh ra bởi quyền năng của Thiên Chúa sẽ không chỉ trở nên cao trọng mà còn sinh nhiều hoa trái thánh thiện. Những hoa trái sinh ra bởi ơn nghĩa với Thiên Chúa là: “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ (Gal 5:22-23). Chúng ta đã được sinh ra bởi Thiên Chúa trong Bí Tích Rửa Tội. Nhưng chúng ta có sinh nhiều hoa trái và trở nên cao trọng trước mặt Thiên Chúa và người khác không?
Hôm qua chúng ta nghe sứ thần “truyền tin” cho một người đàn ông [Thánh Giuse], và hôm nay chúng ta nghe một câu chuyện “truyền tin” khác cũng cho một người đàn ông [Zechariah]. Tin Mừng hôm qua kể về việc truyền tin của Đấng Cứu Thế, còn hôm nay Tin Mừng tường thuật về truyền tin của “Vị Tiền Hô” của Đấng Cứu Thế. Hai người đàn ông đáp lại mầu nhiệm của Thiên Chúa với hai thái độ khác nhau: Một người “không hỏi lời nào,” hoàn toàn đặt niềm tin vào Thiên Chúa và đem ra thực hành cách nhanh chóng điều Thiên Chúa phán; còn một người thì “chất vấn” và “nghi ngờ” quyền năng của Thiên Chúa. Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta không hiểu những điều Thiên Chúa muốn trên cuộc đời của chúng ta, chúng ta cũng chất vấn Chúa thật nhiều và đôi khi đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa. Khi không hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa trong cuộc đời của chúng ta, hãy thinh lặng và lắng nghe như Thánh Giuse. Chỉ trong mầu nhiệm của sự thinh lặng mà chúng ta nghe được tiếng Chúa và sẵn sàng mở cửa cho Ngài khi Ngài gõ vào cửa con tim chúng ta.
Cả hai [Thánh Giuse và Zechariah] đều được trấn an rằng: “Đừng sợ!” (Mt 1:20; Lc 1:13). Trong kinh thánh, chúng ta thấy có một điểm đáng chú ý, đó là: Mỗi khi Thiên Chúa hoặc Chúa Giêsu hiện ra với ai để trao cho họ một sứ mệnh, thì điều đầu tiên Thiên Chúa hoặc Chúa Giêsu nói là lời trấn an: “Đừng sợ!” (hoặc “Thầy đây, đừng sợ!”). Điều này giúp chúng ta khẳng định rằng: ở đâu có sự hiện diện của Thiên Chúa hoặc Chúa Giêsu, ở đó chỉ có bình an và không có sợ hãi. Hay nói một cách khác, ở đâu tình yêu đạt đến mức hoàn hảo, ở đó không có sợ hãi như Thánh Gioan nói: “Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1 Ga 4:18). Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta cũng có nhiều sợ hãi: sợ cho tương lai không biết thế nào, sợ người khác nghĩ tiêu cực về mình, sợ không thành công trong học hành, sợ môi trường mới, sợ công việc mới, sợ thất bại trong công việc, sợ bị phản bội, sợ bị bỏ rơi, và rất nhiều sợ hãi khác. Trong những lúc sợ hãi như thế, Chúa Giêsu cũng nói với mỗi người chúng ta một cách thật nhẹ nhàng và đầy yêu thương: “Thầy đây, Đừng sợ! Thầy sẽ ở với anh chị em cho đến ngày tận thế” (Mt 28:20).
Điều cuối cùng chúng ta có thể rút ra từ bài Tin Mừng hôm nay để trở thành ý lực sống của chúng ta là lời của Elizabeth: “Đức Chúa đã làm cho tôi như thế đó [vào thời điểm mà Ngài thấy thuận tiện hoặc vào ngày Ngài nhìn đến tôi với ơn phúc] để cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời” (Lc 1:25). Bản dịch tiếng Việt mà chúng ta nghe không có phần in nghiêng trên, nhưng đây là một chi tiết quan trọng để cho chúng ta biết rằng: “Thiên Chúa luôn đi bước trước trong mọi sự và Ngài luôn làm cho điều đó xảy ra vào thời điểm mà Ngài thấy thích hợp.” Nói một cách khác, Thiên Chúa luôn thực hiện kế hoạch của Ngài trong lịch sử nhân loại và trên cuộc đời của mỗi người chúng ta theo cách thức và thời điểm mà Ngài thấy thuận lợi chứ không theo cách thức và thời gian mà chúng ta muốn. Khi đối diện với trái ý và đau khổ, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình tin tưởng và hy vọng: “Đức Chúa sẽ nhìn đến tôi vào thời điểm mà Ngài thấy thuận tiện để cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu, theo cách thức Ngài muốn.”
Lm. Anthony, SDB.
………………………………..
Suy Niệm 3: Truyền tin cho ông Giacaria
- Thời vua Hêrôdđê, có vị tư tế tên là Giacaria và vợ là Elizabeth. Cả hai là người công chính, nhưng đã già mà không có con. Một hôm ông Giacaria trúng` thăm vào cung thánh dâng hương cho Chúa. Đang lúc dâng hương ông thấy Thiên thần hiện ra báo cho ông biết : Chúa đã nhận lời ông cầu nguyện, vợ ông sẽ mang thai và sinh con trai đặt tên là Gioan. Người này sẽ nên cao trọng, sống khắc khổ, sẽ dọn đường cho Chúa Cứu Thế.
Nhưng ông Giacaria không tin, nên ông bị câm. Còn vợ ông thì thật sự có thai đúng như lời Thiên thần truyền.
- Thử thách đối với ông Giacaria và bà Elizabeth.
Trong những lúc bị thử thách, chúng ta không biết bám víu vào đâu vì những người chung quanh đều bất lực không thể giúp chúng ta. Lúc đó, chúng ta chỉ biết dựa vào đức tin phó thác cho Chúa, xin Ngài đến cứu giúp.
Kinh Thánh cho biết hai ông bà là người công chính trước mặt Thiên Chúa (Lc 1,6), nhưng Chúa lại để cho hai ông bà bị hiếm muộn, son sẻ, mà theo quan niệm người Do thái là người có tội bị Thiên Chúa phạt, như người ta nói :
“Cây khô không lộc, người độc không con”.
Nhưng công việc của Thiên Chúa thì chúng ta không hiểu được. Có thể đó là những điều Chúa thử thách rồi Người sẽ ban ơn cho như trường hợp hai ông bà hôm nay.
Vấn đề son sẻ được đề cập đến rất nhiều trong Cựu Ước như bà Sara, bà Rebecca, bà Rakhen, mẹ ông Samson, mẹ ông Samuel và Elizabeth đều là những phụ nữ son sẻ, nhưng đã sinh con và những người con của họ đều là những người đã được Thiên Chúa chọn và dùng vào trong công trình vĩ đại của Người. Điều đó cho chúng ta thấy sự bất lực của con người lại tỏ bày quyền năng của Thiên Chúa trong công việc của Người.
- Theo tinh thần của bài Tin Mừng hôm nay, một gia đình đã có một lời cầu nguyện rất sốt sắng : Lạy Chúa, qua câu chuyện trên đây, Chúa muốn cho con biết : nếu con sống đẹp lòng Chúa, thì dù con xin điều gì khó khăn cách mấy, Chúa cũng sẽ sẵn sàng ban cho con. Như trường hợp vợ chồng ông Giacaria không hy vọng gì có con, nhưng ông bà là người công chính luôn luôn sống đẹp lòng Chúa, nên chẳng những cho được sinh con mà còn chọn con ông bà làm tiền hô dọn đường cho Chúa.
Xin cho gia đình con và các gia đình luôn sống đẹp lòng Chúa, hằng ngày siêng năng sốt sắng thờ phượng Chúa, tuân giữ luật Chúa, để được Chúa ban ơn cần thiết, nhất là để được Chúa thương chọn nhiều người trong gia đình chúng con giúp việc Chúa.
- Theo gương thánh Gioan Tẩy giả đến làm chứng cho ánh sáng cũng là làm chứng cho Chúa Cứu Thế. Chúng ta cũng phải làm chứng cho Chúa bằng bất cứ cách nào :” Các con là chứng nhân của Thày” (Lc 24,48).
Chúng ta có thể làm chứng cho Chúa bằng lời nói, chữ viết hay bất cứ phương tiện nào, nhưng phương tiện có tính cách thuyết phục nhất là đời sống thức tế của chúng ta, chính con người chúng ta là dấu ấn của Thiên Chúa để người ta trông thấy chúng ta thì đồng thời cũng nhìn ra Chúa. Trong việc phong thánh cho Linh mục Gioan Vianney, cha sớ xứ Ars, một nhà điều tra phong thánh có hỏi một người trong giáo xứ về đời sống của Ngài, thì người giáo dân ấy chỉ trả lời vỏn vẹn bằng mấy chữ :”Tôi đã trông thấy Thiên Chúa trong một con người”.
- Truyện : Một chứng tích hùng hồn.
Sau những tháng năm làm đầy tớ cho một gia đình quí phái, Sophie Beranski phải thất nghiệp.
Ngày kia, gia đình Hersten, một gia đình Do thái thuê nàng về chăm sóc cho mấy đứa trẻ trong nhà họ. Ngay hôm đầu tiên khi biết được Sophie là người Công giáo, ông chủ đã đặt điều kiện là nàng không được “giảng đạo” cho con cái ông. Sophie nhận lời. Và chiều hôm ấy, lúc còn lại một mình trong phòng, nàng lấy một mảnh giấy nhỏ, viết một dòng chữ xếp lại và bỏ vào chiếc huy chương cha nàng để lại, rồi mang vào cổ. Lũ trẻ trong nhà nhiều lần đòi Sophie cho coi chiếc huy hương ấy nhưng nàng nhất định không cho : bí mật của đời cô mà !
Dưới sự săn sóc chỉ bảo của Sophie, lũ trẻ trong gia đình của Hersten càng ngày càng trở nên nhu mì ngoan ngoãn. Cuộc sống đang lặng lẽ trôi qua, tai họa dồn dập xẩy đến : Bé Naim đau nặng. Cả nhà cuống quít đưa đi bệnh viện. Sophie tình nguyện túc trực ngày đêm ở đó. Rồi thêm hai đứa nữa cũng ngã bệnh. Gánh đã nặng lại càng nặng thêm. Tuy nhiên Sophie vẫn tận tình phục vụ cách vui vẻ cho đến khi ba đứa nhỏ trở lại bình thường. Rồi một hôm, kết quả của những ngày lao nhọc thức khuya dậy sớm, Sophie ngã bệnh và từ trần.
Hai năm trôi qua. Hôm nay là ngày giỗ của Sophie Beranski. Người ta thấy cả gia đình Hersten dậy sớm và cùng nhau đến nhà thờ Công giáo dự thánh lễ. Phải chăng là phép lạ
Không ! Sau khi Sophie đã mất được ít lâu, tình cờ khi mở chiếc huy chương mà tụi trẻ đã vất lăn lóc từ lâu trong một hộc tủ, ông Hersten rút ra được mảnh giấy trên có ghi dòng chữ :”Khi người ta cấm tôi nói về đạo của tôi, tôi quyết sống đạo của tôi trước mặt họ như một chứng từ hùng hồn”.
Ông hết sức cảm phục. Cả gia đình ông cũng thế. Sau đó tất cả mọi người đều đến nhà thờ xin được học đạo và lãnh nhận bí tích Rửa tội.Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt

