BÀI ĐỌC I: 1 V 17, 10-16
Trong những ngày ấy, tiên tri Êlia chỗi dậy lên đường đi Sarephta. Khi ông đến trước cửa thành, ông thấy một quả phụ đang lượm củi; ông gọi bà và nói với bà rằng: “Xin đem cho tôi một ít nước trong bình để tôi uống”. Đương lúc bà đi lấy nước, ông gọi lại mà nói: “Xin cũng mang cho tôi một miếng bánh”.
Bà thưa: “Có Chúa là Thiên Chúa hằng sống chứng giám: Tôi không có sẵn bánh, tôi chỉ còn một nắm bột trong hũ với một ít dầu trong bình. Này đây tôi lượm vài que củi về nấu cho tôi và con trai tôi ăn, rồi chết thôi”.
Êlia trả lời bà rằng: “Bà đừng lo, cứ đi và làm như bà đã nói. Nhưng, với chút bột ấy trước hết hãy làm cho tôi một cái bánh nhỏ, đem ra đây cho tôi, sau đó hãy làm cho bà và con trai bà. Vì Chúa là Thiên Chúa Israel truyền rằng: ‘Hũ bột sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi đi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên mặt đất’ “.
Bà đi làm theo lời ông Êlia; chính ông và bà cùng cả nhà đều đủ ăn; từ ngày đó hũ bột không cạn và bình dầu không vơi như lời Chúa đã dùng Êlia mà phán. Đó là lời Chúa.
BÀI ĐỌC II: Dt 9, 24-28
Đức Giêsu không tiến vào cung thánh do tay người phàm làm ra chỉ là hình bóng cung thánh thật, nhưng Người vào chính thiên đàng, để từ đây xuất hiện trước tôn nhan Thiên Chúa vì chúng ta. Người không còn hiến dâng chính mình nhiều lần, như vị thượng tế vào cung thánh mỗi năm một lần với máu không phải của mình. Chẳng vậy, từ tạo thiên lập địa, Người đã phải chết nhiều lần; nhưng từ nay cho đến tận thế, Người chỉ xuất hiện một lần tế lễ chính mình để huỷ diệt tội lỗi. Như đã quy định, người ta chỉ chết một lần thế nào, sau đó là phán xét, thì Đức Kitô cũng hiến tế một lần như vậy, để xoá tội lỗi của nhiều người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, không phải để chuộc tội, nhưng để cứu độ những ai trông đợi Người. Đó là lời Chúa.
PHÚC ÂM: Mc 12, 41-44 hoặc 38-44
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng trong khi giảng dạy rằng: “Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá: Họ sẽ bị kết án nghiêm ngặt hơn”.
Chúa Giêsu ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà goá nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: “Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà goá nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống mình”. Đó là lời Chúa.
Suy Niệm 1: HỌC HIỂU LÔGIC CỦA HAI BÀ GOÁ VÀ CỦA… THIÊN CHÚA!
Hạn hán kéo dài. Lương thực cạn kiệt. Người nghèo sẽ chết trước. Bà goá ở Sarepta chỉ còn chút bột và chút dầu cuối cùng để làm bữa ăn cuối cùng cho hai mẹ con, rồi sẽ chết! Thế mà Êlia, người của Chúa, xuất hiện và xin bà nhào bột làm bánh cho mình ăn trước đã, hai mẹ con sẽ ăn phần còn lại. Thật lạ lùng là bà đã đơn sơ nghe và làm theo như vậy. Bà goá này có một loại lôgic như thế, dù phần đông trong chúng ta không hiểu được!… (x. 1V 17,1-16).
Cái lôgic của bà goá trên đây là một kịch tính, đã được Thiên Chúa đáp lại bằng một kịch tính ngoạn mục hơn thế: hũ bột ấy không cạn, bình dầu ấy không vơi, hai mẹ con được sống sót! Thiên Chúa không chịu thua con người trong lòng quảng đại. Tấm lòng của Thiên Chúa được ghi nhận và ngợi khen, tạ ơn như ta nghe trong Đáp ca (Thánh vịnh 145): “Linh hồn tôi ơi, hãy ngợi khen Chúa… Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân, Thiên Chúa che chở những khách kiều cư… Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi goá phụ”. Để ý, trong truyền thống Thánh Kinh, các bà goá, các cô nhi, và các khách ngoại kiều là những thành phần chênh vênh khốn khổ nhất, và Thiên Chúa đặc biệt bênh vực họ.
Như vậy là ‘bà goá’ đã xuất hiện hai lần (Bài đọc 1 và Đáp ca). Trong đoạn Tin Mừng Mác-cô (12,38-44), sẽ còn hai ‘bà goá’ nữa. Một ‘bà goá’ trong lời phê phán gay gắt của Chúa Giêsu đối với giới kinh sư: “Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá”! Và nhất là, một bà goá bằng xương bằng thịt được Chúa Giêsu nhìn thấy, chú ý, biểu dương tinh thần và hành động của bà làm tấm gương cho các môn đệ noi theo.
Điều gì đã xảy ra vậy? Bà goá này đã dâng cúng vào Đền thờ hai đồng kẽm trị giá một phần tư xu. Số tiền nhỏ xíu, so với những món tiền dâng cúng to hơn nhiều của những người khá giả! Nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Ta để ý lời bình luận của Chúa Giêsu: “Bà goá này đã dâng nhiều hơn ai hết!” Lại là lôgic lạ lùng của một bà goá mà chúng ta không dễ hiểu được. Chúa không nói “Bà dâng ít nhưng ‘của ít lòng nhiều’”. Chúa khẳng định rõ rằng bà dâng nhiều, chính xác là nhiều nhất! Nên lưu ý hai điều ở đây: Một là, Chúa Giêsu nhìn thấy bà goá và hành động của bà thật rõ, giữa bao con người chen chúc chỗ ấy; thật vậy, dường như chỉ có một mình Chúa Giêsu nhìn thấy điều gì đã xảy ra. Hai là, quan niệm về số tiền dâng cúng nhiều hay ít nơi Chúa Giêsu rất khác với chúng ta. Không phải hễ một tỉ thì nhiều hơn một nghìn! Không phân loại phân nhóm mạnh thường quân theo các con số, để trao bằng hay ghi sổ vàng theo nhóm theo loại!
Thực ra, Chúa có phân loại nhiều ít, lớn nhỏ, nhưng không theo con số mà theo tấm lòng. Bởi Chúa là quán quân tuyệt đối trong tấm lòng trao đi, đến mức trao luôn mạng sống, nghĩa là CHẾT, để cứu độ chúng ta. Con Thiên Chúa làm người, hoàn toàn vô tội, đã chết vì tội lỗi chúng ta – và vì chết là trao hết, trao nhiều nhất hết sức có thể rồi, nên chết một lần thôi, cho mãi mãi. Đây là điều đoạn Thư Do thái hôm nay xác nhận (x. Dt 9,24-28).
Cái lôgic trong cái chết của Chúa Giêsu càng là điều vô cùng khó hiểu đối với chúng ta. Phải mặc lấy tâm tình, thái độ của bà goá ở Sarepta và bà goá trong câu chuyện về ‘hai đồng tiền kẽm’ trong Phúc Âm, thì ta mới có thể mong bắt đầu lờ mờ hiểu được một chút gì…
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
……………………………………..
Sợi chỉ nối kết hai bài đọc hôm nay chính là mối tương quan giữa tội lỗi và quyền lực của Xa-tan. Trong bài đọc 1, tác giả thư gởi Do Thái trình bày Chúa Giêsu là Đấng lấy cái chết của mình để đánh bại quyền lực của tội lỗi và để mang lại cho chúng ta “quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9:15). Điều này chính là tiền đề để chúng ta hiểu lời đối đáp của Chúa Giêsu cho các kinh sư khi họ cho rằng Ngài dùng quỷ vương Bê-en-dê-bun để trừ quỷ, để đánh bại tội lỗi và sự chết. Điều làm chúng ta suy nghĩ ở đây là việc Chúa Giêsu đánh bại thần chết không phải bằng uy quyền của một Thiên Chúa hùng mạnh theo tư tưởng con người, nhưng Ngài dùng chính mình làm hiến tế để xoá bỏ tội lỗi. Chúng ta nghe những điều này trong thư gởi Do Thái như sau: “Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thời gian, Người đã xuất hiện chỉ một lần, để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình. Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét. Cũng vậy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người” (Dt 9:26-28). Qua điều này chúng ta nhận ra rằng: Sự dữ chỉ bị đánh bại khi chúng ta biết chết đi cho khuynh hướng tự khẳng định mình. Sự dữ chỉ bị đánh bại bằng sự thiện, chứ không phải bằng một sự dữ khác.
Bài Tin Mừng hôm nay nói về sự tương phản giữa những kinh sư và bà goá nghèo. Chúng ta thấy có hai sự kiện trong trình thuật hôm nay: Chúa Giêsu khuyên đám đông coi chừng các kinh sư (Mc 12:38-40) và sự quảng đại của bà goá (Mc 12:41-44). Hình ảnh những người kinh sư giả hình bị Chúa Giêsu khiển trách trong Tin Mừng hôm nay là điều đối nghịch với những gì mà Chúa Giêsu muốn nơi các môn đệ của Ngài: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.” Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đệ không được chạy theo vinh quang và tiếng tăm như các kinh sư. Ngài cũng khuyến cáo họ không được nuốt hết tài sản của những người cô thế cô thân trong khi giả hình trong đời sống đạo đức. Dù không có mạnh như Tin Mừng Mátthêu [chương 23], đoạn trích này đã được sử dụng để chống lại những thái độ giả hình của người Do Thái trong quá khứ, nhưng bản văn không chỉ trích tất cả các kinh sư, chỉ một loại nào đó (x. Mc 12:28-34), và rất hiếm cho mọi người Do Thái. Như chúng ta biết, kinh sư là những người giải thích Kinh Thánh. Loại kinh sư bị Chúa Giêsu chỉ trích ở đây là những người đặt mình ở trung tâm của cộng đoàn, nhất là trong bối cảnh tôn thờ. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng đặt mình làm trung tâm điểm của mọi sự, nhất là khi đến với Chúa. Thay vì đặt Chúa làm trung tâm của vinh quang và danh dự, thì chúng ta đặt mình vào đó. Thái độ này đưa chúng ta xa Chúa và xa anh chị em mình. Hãy để Chúa là trung tâm, thì mọi người mới hiệp nhất trong yêu thương.
Câu chuyện của bà goá nghèo được nối kết với biến cố trên bởi thuật ngữ “bà goá.” Câu chuyện này cung cấp cho chúng ta một thái độ sống hoàn toàn trái ngược với những người kinh sư: “Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma. Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân.” Hình ảnh âm thầm và quảng đại của bà goá là trọng tâm của câu chuyện. Theo các học giả Kinh Thánh, sự quảng đại và tận hiến nội tâm của bà goá là điều được sử dụng trong phần giới thiệu về cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Nói cách khác, sự quảng đại và tận hiến của bà goá báo trước điều Chúa Giêsu sẽ thực hiện trong cuộc thương khó của Ngài. Điều đáng để chúng ta suy gẫm là sự tương phản giữa bà goá và những người giàu: Bà goá đã thật sự hy sinh tất cả để đóng góp cho Đền Thánh, còn những người giàu không có một hy sinh nào vì họ cho những của dư thừa. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về việc trao ban: Điều quan trọng không phải là “số lượng” mà là “chất lượng” – là tình yêu và hy sinh mà chúng ta đặt vào trong những gì chúng ta trao ban. Trao ban “một chút của những gì mình là” thì vẫn giá trị hơn trao ban “rất nhiều những thứ mình không cần.”
Lm. Anthony, SDB.
…………………………………………………………….
Suy Niệm 3: Hiến thân phục vụ
Năm phụng vụ sắp chấm dứt và ánh sáng của ngày lễ các thánh và lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời giúp cho chúng ta thêm phần suy tư: Phải chăng tất cả đều tan biến khi chúng ta lìa đời? Cái gì còn lại trong cuộc đời này? Cái gì thực sự quan trọng và có thể tồn tại trong những thành tích mà chúng ta bằng mọi giá cố gắng đạt được? Jean Guitton đã giàn dựng một hoạt cảnh trong cuốn tiểu thuyết „Ngày tận thế của tôi“. Ngày ấy chính bản thân ông đứng trước mặt Đức Giêsu Kitô. Thánh Phêrô hỏi ông đến ba lần một câu hỏi mang tính chất quyết định cho tất cả: „Jean, phải chăng bạn đã tự hiến thân?“ Tất cả vinh hoa phú quý mà bạn cố gắng đạt được không còn tồn tại nữa. Tác phẩm của ông kết thúc như sau: „Tất cả những gì có tầm vóc đều bị tan chảy như một ngọn núi bằng sáp nến“. Dường như điều có thể tồn tại không phải là cái bạn chiếm hữu nhưng là những gì bạn đã cho đi.
Đoạn Phúc âm ngày hôm nay cũng dẫn đưa chúng ta đến hồi kết, tới cuối đoạn đường mà Đức Giêsu đã đi qua. Ngài đang có mặt ở Giêrusalem. Hoàn toàn hiến thân chính là chìa khoá để có thể hiểu tại sao Ngài cảnh bảo trước một nếp sống sang chảnh, nếp sống của những người nghĩ rằng mình quyền quý cao sang, thuộc gia đình gia giáo và trí thức. Dĩ nhiên thành công và trí thức thuộc diện đao to búa lớn, ai lại không muốn đạt được. Bạn có quyền tự hào vì những thành tích mình đạt được. Bạn cũng hao tâm tổn sức không ít mới có được. Ai có quyền phủ nhận hoăc chê bai chứ. Nếu có ai bông đùa nói rằng Chúa cũng không biết dòng Phanxicô có bao nhiêu của cải, điều này có ý nói rằng, khấn khó nghèo thì không khó nhưng sống tinh thần khó nghèo là chuyện nan giải, không dễ dàng. Chúa không hỏi bạn có phải là ông nọ bà kia, hôm nay bạn ăn gì mặc gì nhưng hỏi hôm nay bạn sống thế nào. Chúa muốn bạn trở nên con người mà Ngài đã đặt để vào khi tạo dựng nên bạn chứ không phải con người như bạn muốn. Hành động của bà goá nghèo được Đức Giêsu ca tụng bởi vì bà đã cho đi tất cả. Sống đơn giản, hiến thân phục vụ là cách đáp trả lại tình yêu của Thiên Chúa, vì „chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân“ như Kinh hoà bình diễn tả.
Ba điều Đức Giêsu muốn nhắc nhở bạn qua hình ảnh bà goá nghèo. Bạn có khả năng cho đi và có thể cho đi rất nhiều thứ. Tất cả đều không liên quan đến việc bạn giầu hay nghèo, già hay trẻ. Bạn hãy cho đi những gì bạn ưa thích, muốn giữ cho riêng mình và bạn hãy cho đi với tất cả tấm lòng. Đây là tầng cuối cùng của nghệ thuật cho đi và ban tặng, cũng là điều làm Đức Giêsu phải ngạc nhiên khi chứng kiến hành động của bà goá nghèo trước hòm tiền. Cho đi bao giờ cũng hơn là lãnh nhận.
Lm Phêrô Trần Minh Đức
…………………………………………………
Suy Niệm 4: CỦA ÍT LÒNG NHIỀU
- DẪN NHẬP
Người đời thường hành động theo phương châm :”Đẹp đẽ khoe ra, xấu xa che lại” (Tục ngữ). Ai cũng muốn cho mình được người ta ca tụng, không muốn bị người ta chê cười, nên tìm cách ếm nhẹm những cái xấu mà chỉ phô ra những cái tốt của mình. Luật sĩ là những người chỉ thích khoe những cái tốt đẹp của mình để lòe thiên hạ, nhưng những cái họ khoe ra không có thực mà chỉ là ảo, nghĩa là họ giả hình giả bộ cốt lấy tiếng khen của mọi người.
Vì thế trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu đưa ra hai khuôn mặt tiêu biểu : luật sĩ và bà góa để nói lên cái tương phản của hai loại người : giả dối và thành thực. Luật sĩ dâng cúng cho Đền thờ không vì lòng mến Chúa mà cốt tìm tiếng khen, còn bà góa đã dâng cúng với tất cả tấm lòng thành, với lòng mến yêu nồng nàn đối với Chúa. Bà đã âm thầm dâng cúng tất cả những gì thiết yếu đối với bà, kể cả mạng sống, mà không cần ai biết đến. Nhìn cung cách dâng cúng của bà, Đức Giêsu đã khen :”Bà này đã dâng cúng nhiều hơn hết mọi người”.
Thiên Chúa không xét giá trị theo của dâng cúng nhưng xét theo tấm lòng của người dâng cúng. Người ta thường nói :”Cách cho quí hơn của cho”. Người ta có thể cho một cách miễn cưỡng, hay cho vì bổn phận bó buộc hay cho vì lòng hảo tâm, vì lòng thương mến. Bà góa này đã cho đi một cách tự nguyện, quảng đại, thơm thảo, bất vụ lợi… nên việc dâng cúng của bà được đánh giá cao. Bà góa này đã dâng cúng với cung cách tốt đẹp đó, nên đã được Đức Giêsu khen là bà đã dâng cúng nhiều hơn hết mọi người vì bà là người có “của ít lòng nhiều”.
- TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : 1V 17,10-16
Khi tiên tri Êlia phải lánh nạn để tránh cơn giận của hoàng hậu Jézabel, ông cảm thấy mệt nhọc và kiệt sức. Ông xin bà góa làng Serepta cho trú nhờ và xin cho ăn một chút bánh hiếm hoi của bà. Bà sẵn sàng làm bánh cho ông ăn và Chúa đã thưởng công do lòng quảng đại của bà :”Hũ bột sẽ không vơi, vò dầu sẽ không cạn cho đến ngày Đức Chúa đổ mưa xuống trên mặt đất”.
+ Bài đọc 2 : Dt 9,24-28
So sánh chức tư tế Do thái giáo và chức Thượng Tế của Đức Giêsu, tác giả thư Do thái làm nổi bật sự siêu việt của lễ tế do Đức Giêsu dâng hiến hoàn hảo và đời đời.
- Trong tư tế là Con Thiên Chúa làm người, Ngài là Ngôi Lời nhập thể. Hiến tế mà Ngài dâng trên đồi Calvê có một giá trị vô cùng và tuyệt đối.
- Từ khi phục sinh và lên trời, Ngài còn tiếp tục hiến dâng lễ vật này, tiến dâng mãi mãi để tôn vinh Chúa Cha và không ngừng nguyện cầu ơn phúc cho nhân loại.
+ Bài Tin mừng : Mc 12,38-44
Hình ảnh trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy có hai đối chọi : luật sĩ và bà góa. Bề ngoài có vẻ như không ăn khớp, nhưng thực tế bổ túc cho nhau.
- Người luật sĩ chỉ có cái vỏ bề ngoài, trong lòng thì rỗng tuếch : kiêu căng, tham lam, khoe khoang, giả hình.
- Bà góa thì khiêm nhường, âm thầm, thành thật, nghèo tiền nhưng giầu lòng.
Đức Giêsu coi đây là hình ảnh đẹp nên “gọi môn đệ đến” chỉ cho thấy và khuyên các ông hãy noi gương bà góa đó.
- THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Vật khinh nhưng hình trọng
Tục ngữ Việt nam dùng câu “Vật khinh hình trọng” có ý nói đến con người là quí trọng, còn của cải thì coi thường. Con người có giá trị hơn của cải.
Cũng có câu khác ý nghĩa tương tự :”Thèm lòng chẳng ai thèm thịt” hoặc :”Vị tình vị nghĩa, không ai vị đĩa xôi đầy”, đều có ý nói : người ta đến giỗ tết hiếu hỷ vì quan hệ tình cảm chứ không phải cốt để ăn uống.
Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy có hai hình ảnh trái ngược. Bà góa đã sống theo phương châm “vật khinh hình trọng” nghĩa là bà đã dâng cúng cho Chúa với “của ít lòng nhiều” hay “của một đồng công một nén” (Tục ngữ) : của dâng cúng của bà thì ít, nhưng tâm tình thì dạt dào.
Ngược lại, các luật sĩ lại sống trái ngược với phương châm trên mà họ đã đổi lại thành “vật trọng hình khinh”, họ chỉ chú trọng đến số lượng mà quên đi chất lượng hay phẩm chất, điều mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi người dâng cúng. Họ chỉ thích sống theo cái vỏ bề ngoài mà trong lòng thì trống rỗng. Trước mặt Chúa họ đúng là những người sống theo tiêu chẩn “Thùng rỗng kêu to”, mà kiểu sống đó đã bị Đức Giêsu chỉ trích.
- HAI KHUÔN MẶT ĐIỂN HÌNH
- Khuôn mặt người luật sĩ
Các luật sĩ là những người chuyên nghiên cứu Thánh Kinh và pháp luật. Họ giải thích Thánh Kinh cho người khác và làm cố vấn pháp luật cho dân chúng. Họ là bậc thầy thuộc giới thượng lưu nên được người ta kính trọng. Nhưng Đức Giêsu lại chỉ trích miệt thị họ vì họ là những người kiêu căng và giả hình giả bộ.
Những người này làm việc đạo đức chỉ vì cầu danh, cầu lợi, cầu địa vị. Họ mặc lễ phục trịnh trọng, làm bộ đọc kinh nguyện lâu giờ chỉ để cầu được kính trọng chào hỏi, cầu ngồi chỗ danh dự nhất, cầu kiếm được nhiều tiền của biếu tặng, lợi dụng chức quyền để nuốt trửng tài sản của các bà góa… Họ hoàn toàn có mục đích xấu, vụ lợi, ích kỷ, kiêu căng. Xét theo giá trị đạo đức họ bị Đức Giêsu xếp vào hạng xấu : “Họ sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn”.
- Khuôn mặt hai bà góa
Phụng vụ hôm nay đề cập tới hạng người mà dư luận thương hại hay coi thường là các bà góa. Họ là những người giữa đường đứt gánh, một mình gánh vác giang sơn nhà chồng. Vì không có sự bao bọc của người chồng, người góa phụ chỉ còn nhờ vào tài sản của chính mình, không ai giúp đỡ. Bởi vì họ có gì đâu ? Của cải chồng họ để lại thuộc về trưởng nam. Có thể trước đó họ đã gửi gắm ở đâu được một chút của nào đó. Hay tài sản riêng họ có trước khi về nhà chồng, họ đã gửi nơi các luật sĩ mà họ tưởng là những người đạo đức nâng đỡ họ. Ai ngờ bọn này lại lợi dụng và dã tâm ngốn cả nhà cửa của họ.
Theo Thánh Kinh các bà góa được liệt vào số những người nghèo khổ nhất cùng với những kẻ mồ côi và những kẻ tha phương cầu thực (Đnl 24,17-22).
- a) Bà góa thành Serepta
Sách Các Vua hôm nay kể lại truyện có một bà góa ở Serepta đang đi kiếm củi. Tiên tri Êlia thấy bà đội một cái bình dầu trên đầu thì tưởng bà ta đi múc nước. Nhưng không, đó là một cái vò đựng một chút bột còn sót lại. Bà đi kiếm mấy thanh củi rồi về nướng làm bánh cho con trai ăn và mình ăn rồi cũng chết. Sống trong nạn đói cùng cực như vậy, mà theo lời yêu cầu của Êlia, bà vẫn sẵn sàng hy sinh nhường cho nhà tiên tri ăn, dù không biết ông là ai. Chính vì lòng hy sinh bác ái tột độ đó, Thiên Chúa đã làm phép lạ cho hũ bột không vơi, vò dầu không cạn để cứu sống bà, con bà và tiên tri Êlia nữa.
Bà góa này không những tỏ ra rất nhân đạo, nhưng nhất là còn tin ở lời vị tiên tri và tin vào Lời Chúa. Chính niềm tin này khiến bà dám làm bánh cho nhà tiên tri ăn trước. Bà như quên và như bỏ mạng sống của mẹ con bà vì tin lời nhà tiên tri. Và Chúa đã thưởng công lòng tin này, khiến câu chuyện về bà hôm nay đáng được dùng để dẫn nhập vào bài Tin mừng.
- b) Bà góa trong Tin mừng
Đức Giêsu cùng với các môn đệ sau khi giảng dạy cho dân chúng trong Đền thờ, liền sau đó Thầy trò đi ra ngoài quan sát dân chúng dâng cúng tiền để giúp cho Đền thờ, chính tại đây, Đức Giêsu đã giáo huấn các môn đệ về ý nghĩa và giá trị của việc dâng cúng.
Khung cảnh của Tin mừng hôm nay nằm rất gần kho bạc vốn được dùng để chứa các đồ dâng cúng (x. 2V12,10). Các thùng tiền dâng cúng được thiết kế theo hình dáng cái loa kèn và được đặt rất nhiều trong sân dành cho phụ nữ. Chính vì đặt trong địa thế như vậy, tạo điều kiện thuận lợi cho giới quan sát là chính các luật sĩ và tay chân lân cận. Đức Giêsu cùng các môn đệ dễ dàng quan sát những thùng tiền cũng như những người bỏ tiền dâng cúng.
Trong dòng người tấp nập bỏ tiền dâng cúng Đền thờ, Đức Giêsu đặc biệt chú ý đến người đàn bà góa nghèo nàn. Bà đã âm thầm bỏ vào hai đồng tiền kẽm với giá trị chỉ bằng một phần tư đồng bạc Rôma. Bởi dân Do thái thời Đức Giêsu bị thống trị bởi đế quốc Rôma. Chính vì thế, người dân phải sử dụng đồng tiền Rôma trên đó có mang hình và ký hiệu hoàng đế Rôma. Đây là loại tiền bằng bạc, một đồng cân nặng 3,8 g và tương đương với 0,875 quan vàng. Thấy được như thế, chúng ta mới thấy rằng đồng tiền mà bà góa trong Tin mừng dâng cúng vốn giá trị chẳng đáng là gì , nhưng đối với Đức Giêsu , Ngài đã khen :”Bà góa nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”(Mc 12,43).
- BÀI HỌC TỪ HAI BÀ GÓA
- Giá trị việc dâng cúng
Tại sao Đức Giêsu lại nói với các môn đệ:”Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa này đã bỏ nhiều hơn hết” ? Lý do để Đức Giêsu khen thật rõ ràng : đó là số tiền mà dòng người kia tấp nập bỏ vào thùng tiền dâng cúng Đền thờ là những đồng tiền dư thừa. Số tiền mà họ bỏ vào dâng cúng không làm hụt đi tài sản và thanh thế của họ mà còn tô thêm uy danh cho kẻ lắm bạc nhiều tiền. Còn bà góa, trái lại, bà đã rút ra từ cái túng thiếu, cái nghèo đói của mình, từ giá trị của hai đồng tiền kẽm chính là tài sản duy nhất nuôi sống mình để dâng cúng vào Đền thờ.
Như vậy, giá trị của việc dâng cúng không hệ tại ở số lượng của cải nhiều hay ít, có giá trị hay không, mà chính là tùy thuộc vào tấm lòng chân thành của người dâng cúng.
Muốn của dâng trở thành một của dâng đích thực thì phải là của dâng do lòng hy sinh. Vấn đề không nằm ở số tiền dâng mà ở cái giá người dâng phải trả, không phải là tầm cỡ của lễ vật, nhưng là sự hy sinh.
Chính vì vậy mà chân phước Têrêsa Calcutta nói :”Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”.
Truyện : Bà Oseola Mc Carthy
Báo New York Times đưa tin bà Oseola Mc Carthy : Biểu tượng “Lòng từ thiện” của nước Mỹ, vừa qua đời ngày 03/10/1999 ở tuổi 91.
Vào một ngày của tháng 7/95, ông hiệu trưởng đại học phía bắc Missisipi đã vô cùng ngạc nhiên, khi có một phụ nữ xa lạ tên Oseola Mc Carthy xin được tặng 150.000 đôla làm quỹ học bổng cho các sinh viên nghèo của trường, mà không cần được ghi danh tưởng niệm hay tuyên bố công khai. Nhà trường còn sửng sốt hơn khi biết người phụ nữ ấy làm nghề giặt ủi, và số tiền kia là tiền dành dụm cả một đời người.
Ngay khi biết câu chuyện bà Mc Carthy tặng tất cả tiền bạc mình có làm quỹ học bổng cho trường, ông tỷ phú Ted Turner, trùm ngành kinh doanh cáp truyền hình Mỹ, đã tuyên bố góp thêm một tỷ đôla cho quỹ. Ông nói :”Người phụ nữ nhỏ bé ấy đã dám ban tặng tất cả những gì bà có, thì tôi thấy mình cũng phải đóng góp phần của tôi là một tỷ đôla”.
- Có ba cách cho
Người ta nói rằng có ba cách cho : người cho một cách bất đắc dĩ, người cho vì bổn phận và người cho với tâm tình yêu thương.
Người cho một cách bất đắc dĩ thì nói :”Tôi bực mình vì phải cho…” . Người cho vì bổn phận thì nói :”Tôi buộc phải cho…”. Còn người cho vì tình thương thì nói :”Tôi muốn cho…”
Nói cách khác, kẻ cho một cách bất đắc dĩ thì cho một cách miễn cưỡng, bực mình vì phải cho. Kẻ cho vì bổn phận thì cũng cho một cách miễn cưỡng nhưng lòng nặng trĩu vì bị bổn phận trói buộc. Còn người cho vì tình thương thì tự ý cho và cho thật lòng.
Câu chuyện bà góa trong Tin mừng hôm nay là một ví dụ tuyệt hảo về sự trao tặng với tâm tình yêu thương trìu mến. Bà cho đi mà không phải vì bị ép buộc hay vì bổn phận thúc đẩy, nhưng với tất cả tấm lòng.
Truyện : Nhường phòng cho khách
Cách đây khá lâu, một đêm kia, có đôi vợ chồng mới cưới đi về một vùng quê xa xôi thì bị mắc phải cơn mưa rào dữ dội. Không thể đi xa hơn nữa, họ liền rời khỏi xe và đi bộ về hướng một căn nhà có thắp ngọn đèn lù mù. Khi họ bước vào nhà thì gặp đôi vợ chồng già tay cầm đèn dầu tiến ra cửa. Người thanh niên trình bầy tình trạng khó khăn, đoạn yêu cầu :”Quí ngài có thể cho chúng tôi trú ngụ đến sáng được không ? Nằm trên sàn nhà hay trên ghế bành cũng được”.
Ngay lúc đó có vài hạt cơm dính trên mái tóc người thiếu phụ mới đến rơi xuống sàn nhà. Đôi vợ chồng chủ nhà liếc thấy liền đưa mắt nhìn nhau thông cảm. Bà chủ nhà lên tiếng :”Được chứ, các cháu ! Chúng tôi vừa có được một căn phòng trống. Nào hãy ra thu xếp đồ đạc trong xe khi chồng tôi và tôi dọn dẹp căn phòng cho tươm tất một chút”.
Sáng hôm sau, đôi tân hôn thức dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy hai vợ chồng già, họ lặng lẽ mặc quần áo, đoạn họ đặt tờ 10 đôla lên chiếc tủ, rồi nhón chân đi xuống cầu thang. Khi mở cánh cửa thông qua phòng khách, họ bỡ ngỡ nhìn thấy đôi vợ chồng già đang nằm ngủ trên những chiếc ghế dựa. Té ra cặp vợ chồng già này đã nhường cho đôi tân hôn căn phòng ngủ duy nhất của họ. Chàng thanh niên và cô vợ nén lại vài phút, đoạn anh ta nhón chân quay lên cầu thang và đặt thêm 5 đôla nữa lên chiếc tủ (Mark Link, Giảng lễ Chúa nhật năm B, tr.78).
- Cho với tấm lòng chân thành
Qua nội dung ba bài đọc Thánh lễ hôm nay, chúng ta thấy giáo huấn của Đức Giêsu gồm ba điểm chính :
- Thương thì phải cho, vì yêu là cho đi.
- Của cho không bằng tấm lòng người cho.
- Chỉ chính cái mình quí nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất.
Ở đây chúng ta chú trọng vào tấm lòng của người cho. Các luật sĩ dâng cúng cho Chúa nhiều thật, nhưng với những ý đồ không tốt. Họ dâng cúng chỉ là để khoe khoang, chứ không với tấm lòng chân thành để dâng kính Chúa vì lòng mến Chúa. Kiểu dâng cúng như thế cũng đi ngược với tâm lý người Việt nam :”Người ta thèm lòng chứ đâu thèm thịt”(Tục ngữ).
Người Việt nam cũng đề cao giá trị đạo đức chân chính bằng những câu châm ngôn như :
“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
Hoặc :
“Cái nết đánh chết cái đẹp’
Gỗ là giá trị chân chính, nước sơn mầu mè bên ngoài là phụ thuộc. Tính nết là giá trị cốt cách của con người, còn vẻ đẹp duyên dáng bên ngoài là phụ thuộc, chóng phai, chóng tàn. Tuy nhiên, thời đại ngày nay, người ta bị hấp dẫn về mẫu mã, quảng cáo, tuyên truyền, hơn là phẩm chất tốt của vật dụng.
Truyện : Người buôn cam
Ngày xưa, ở Hàng châu có một người đi buôn cam. Anh ta khéo để dành cam lâu ngày mà không ủng. Lâu ngày mà vỏ vẫn đỏ hồng, trông tốt đẹp như vàng ngọc.
Đem ra chợ bán, thiên hạ tranh nhau mua. Ai thấy cam như vậy mà không thèm ? Cơ tôi cũng mua một quả. Đem về nhà bóc ra, thì ôi, hơi thối xông lên mặt, múi thì xác xơ như bông nát. Tôi liền ra chợ lại, tìm gặp người bán cam trách móc :
– Anh bán cam cho người ta để làm của cúng lễ, đãi tân khách, hay là chỉ để làm cho choáng mắt bên ngoài, đánh lừa thiên hạ ? Tệ thật ! Anh giả dối lắm.
Người buôn cam mỉm cười nói :
– Tôi làm nghề này đã lâu lắm để kiếm tiền nuôi thân. Tôi bán thì người ta mua. Chẳng ai nói năng gì cả. Chỉ có ông là kêu ca thôi. Thiên hạ giả dối nhiều, chẳng phải riêng gì một mình tôi. Ông thật không nghĩ cho đến nơi. Này thử xem, người đeo hổ phù, ngồi da hổ, hùng dũng, trông ra dáng quan võ lắm. Kỳ thực họ có giỏi được như Ngô Khởi, Tô Tẫn không ? Người đội mũ cao, đóng đai dài, trông ra dáng quan văn lắm. Kỳ thực họ có giỏi được như Cao Dao, Y Doãn không ? Giặc nổi lên không biết dẹp, dân khổ không biết cứu. Quan lại tham nhũng không biết trừng trị. Pháp hộ hỏng không biết sửa đổi. Ngồi không ăn lương, chẳng biết xấu hổ… Thế mà lúc ra ngồi công đường, đi xe ngựa, uống rượu ngon, ăn của lạ, oai vệ hách dịch vô cùng!…
Đó, bề ngoài họ chẳng như vàng ngọc, mà bên trong lại chẳng hôi thối, và xác xơ, như bông nát là gì ? Sao ông không chịu xét những hạng người như thế, mà lại đi xét quả cam tôi “?
Câu chuyện buôn cam trên đây nói lên thực trạng mai mỉa của xã hội ngày nay. Đức Kitô đã nhiều lần lên án gắt gao bọn mũ cao áo dài thể ấy :
“Hỡi những kẻ giả hình,
Các ngươi không khác chi những nấm mồ bôi vôi
Vỏ ngoài thì xem xinh xắn lắm,
Nhưng bên trong là thây ma và mọi thứ xú uế.
Bên ngoài các ngươi có vẻ công chính đối với người ta
Nhưng bên trong thì đầy giả dối và vô đạo”
(Mt 23,27-28)
Cụ thi sĩ Nguyễn Khuyến thì gọi họ là nộm, hữu danh vô thực :
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi.
III. BIẾT LẤY GÌ DÂNG CHÚA BÂY GIỜ ?
Mỗi khi đọc câu Thánh vịnh :
Tôi biết lấy gì dâng lại cho Chúa
Để đền đáp những gì Ngài ban tặng cho tôi.
Tôi xin nâng chén hồng ân cứu độ
Và kêu cầu danh thánh Chúa.
Chúng ta cảm thấy dạt dào lòng tri ân đối với Chúa vì muôn hồng ân Chúa đã ban tặng cho ta. Nhìn trời, nhìn trăng sao, nhìn đất, nhìn hoa lá cỏ cây… tất cả đều nói lên tình thương yêu của Chúa đối với chúng ta, trong việc tạo dựng mọi sự vật cho chúng ta một cách dồi dào :
Chúng tôi xin một bông hoa, thì Ngài cho cả bó,
Chúng tôi xin một giọt nước, thì Ngài cho cả đại dương,
Chúng tôi xin một hạt cát, thì Ngài cho cả một bờ biển,
Chúng tôi xin một lá cỏ, thì Ngài cho cả một bồn,
Chúng tôi xin ăn, thì Ngài ban cho cả Thịt Máu Ngài.
(Mark Link)
Trước tình thương bao la của Chúa, chúng ta không bao giờ được trở nên những kẻ vô ơn. Chúng ta phải đáp lại tình thương đó bằng những của hiến dâng xứng đáng được Chúa chấp nhận. Của dâng Chúa phải là những của lễ thơm thảo nhất, thân thiết nhất mà chúng ta dành cho tha nhân.
Văn hào Louis Veuillot khi chết, có để lại một bao thơ dầy cộm với mấy hàng chữ ghi :”Tiền nhịn hút thuốc trong các mùa Chay để giúp cho người nghèo” .
Tư tưởng của Chúa, cách phán đoán và đánh giá sự vật cũng như con người của Ngài không phải là của chúng ta. Ngài thấu suốt tận thẳm sâu tâm hồn. Chúa không nhìn theo dáng vẻ bên ngoài đâu.
Thường người ta thích hình thức hơn là thực chất, thích tự đề cao giá trị thực sự. Trái lại, Thiên Chúa không nhìn diện mạo, y phục, không nhìn vật chất nhưng nhìn vào tâm hồn. Thánh Kinh đã không nói rằng “Người thấu suốt tâm can sao” ? Không thể đánh lừa Ngài được đâu. Vàng quí không phải là thứ vàng giới thiệu trên tay, nhưng là thứ vàng hiện diện trong tâm hồn : vàng ròng của tình yêu.
Chúng ta hãy theo gương bà góa trong Tin mừng, hãy biết cho đi, cho đi tất cả. Với hai đồng tiền kẽm, bà góa đã cho đi tất cả, trao phó tất cả mạng sống cho Thiên Chúa vì bà tin rằng Đấng bà tin theo không bao giờ để bà thiệt thòi. Vâng, khi chúng ta cho đi, chính là lúc chúng ta nhận lãnh và nhận lãnh càng dồi dào những hồng ân của Thiên Chúa. Một thi sĩ đã gợi cho chúng ta những ý tưởng rất hay :
Quà tặng đẹp nhất
Cho kẻ thù, chính là sự tha thứ
Cho bạn bè, là sự trung thành
Cho các em bé, là những gương sáng
Cho một người cha, là lòng tôn kính
Cho một bà mẹ, là trái tim ta
Và cho người lân cận, là đôi tay ta.
(Cảm hứng do Francis Balfour)
Lm Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt

